| Trích: | |  | | | http://tuanvietnam.net/2009-11-24-tieu-chuan-giao-su-o-viet-nam-co-nhieu-khac-biet-;5717][/url]
1. Hiện nay, chúng ta có hơn 8.000 GS/PGS. Nếu theo tiêu chuẩn nước ngoài (mỗi GS/PGS phải công bố ít nhất 1 bài báo khoa học) thì chúng ta phải có hơn 8.000 bài báo khoa học trên các tập san quốc tế. Nhưng trong thực tế, số ấn phẩm khoa học xuất phát từ Việt Nam trên các tập san khoa học quốc tế hiện nay là khoảng 1.000 bài! Con số này chỉ bằng 1/3 Thái Lan và 1/6 Singapore.
2. Điều kiện thứ hai là thời gian. Thông thường, ứng viên thường phải trải qua ít nhất hai năm nghiên cứu sau khi xong học vị tiến sĩ để có thể xin đề bạt lên chức vụ giảng sư (hay "assistant professor"). Thời gian cần thiết để một assistant professor được đề bạt lên PGS thường là ít nhất 3 năm và cao nhất là 6 năm. Từ PGS lên GS, thời gian cần thiết ít nhất là 5 năm. Những con số trên đây chỉ là những qui định rất chung, bởi vì trong thực tế, nó còn tùy thuộc vào từng cá nhân ứng viên và nhu cầu của bộ môn khoa học....
3. Thông thường, những con số được "hiểu ngầm" là assistant professor phải có từ 5 bài báo trở lên, PGS ít nhất là 20, và GS thì ít nhất là 50.
4. Nếu ứng viên công bố toàn những bài báo mà không ai trích dẫn thì giá trị của chúng cũng chẳng cao hơn con số 0 (vô dụng) bao nhiêu !
5. Chỉ số H (H index), vốn hiện được sử dụng để đánh giá thành tựu NCKH của một cá nhân. Chỉ số H còn được sử dụng rộng rãi trong việc xét đề bạt và cung cấp tài trợ cho NCKH. Theo các chuyên gia, một PGS phải có chỉ số H khoảng 12, và một GS nên có chỉ số H từ 18 trở lên.
6. Khả năng lãnh đạo ngành cũng quan trọng. Một GS phải là một nhà lãnh đạo khoa học về một lĩnh vực hẹp nào đó được cộng đồng khoa học quốc tế công nhận.
7. Để được đề bạt lên chức "assistant professor", ứng viên phải có công bố ít nhất là 5 bài báo khoa học mà ứng viên là tác giả số một của bài báo. Ở đây là đề cập đến những bài báo trên các tập san có cơ chế bình duyệt nghiêm chỉnh (còn gọi là peer-review system), chứ không phải những bài báo trên các báo chí trong nước hay của trường, càng không phải là những tạp chí phổ thông dành cho công chúng. Ngoài ra, ứng viên còn phải chứng minh mình có khả năng giảng dạy, có khả năng phát triển course học hữu hiệu cho khoa.
Để được đề bạt lên chức danh PGS, ứng viên cần phải có ít nhất 20 bài báo khoa học trên các tập san quốc tế (có bình duyệt), và ít nhất là 30% trong số này phải trên các tập san số một trong ngành. Về giảng dạy, ứng viên phải chứng tỏ mình có khả năng giảng dạy, và đã đào tạo thành công sinh viên thạc sĩ và ít nhất là đào tạo thành công một tiến sĩ.
8. Từ PGS lên GS là một bước nhảy vọt tương đối lớn, cho nên tiêu chuẩn cũng càng cao. Tuổi đời trung bình của một GS là 55 ; rất ít ai được đề bạt chức danh GS trước độ tuổi 40. Về tiêu chuẩn nghiên cứu bất thành văn, thông thường các ứng viên phải có ít nhất là 50 bài báo khoa học, và trong số này ít nhất là 50% phải trên các tập san số một trong ngành. Chỉ số H trung bình của một GS các trường ĐH lớn bên Mỹ thường là 20 trở lên. Số lượng bài báo phải đều hàng năm, chứ không phải bất thường (điều này chứng tỏ ứng viên có khả năng hoạt động khoa học về lâu về dài)!
| | | | | Hôm nay đọc bài báo của Nguyễn Văn Tuấn bàn chuyện phong GS/PGS ở VN. Trước giờ mình vẫn phục bác Tuấn nhưng có lẽ bài viết này bác publish hơi nóng vội, có nhiều điểm không thuyết phục theo ý kiến chủ quan của mình. Ở đây mình chỉ nói đến điểm không thuyết phục, còn dĩ nhiên những điểm khác thì mình đồng ý với tác giả.
1. Cái tiêu chuẩn 1 bài báo (nếu có) chắc em nghĩ nó đâu có bắt buộc là các bài báo phải từ VN? Mà định nghĩa thế nào là báo từ VN? Khi tất cả authors đang làm việc trong nước? Khi các GS/PGS đi ra nước ngoài visiting, hợp tác ra papers thì có tính vào số này hay không? Rõ ràng bác Tuấn đã không làm rõ được điều này. Tác giả viết "Nếu theo tiêu chuẩn nước ngoài (mỗi GS/PGS phải công bố ít nhất 1 bài báo khoa học)..." Nói thật là em chưa nghe ở nước ngoài nào có cái tiêu chuẩn như thế này cả, ít nhất là các nước em đã sống và học. Hơn nữa, hầu hết các Profs môn học xã hội lịch sử, nghiên cứu những cái đặc thù ở VN,...thì làm sao ma có báo quốc tế? Hơn nữa books có tính? Có lẽ GS Tuấn cần phải làm rõ hơn điểm này rất nhiều.
2. Điểm này cho thấy một chút mâu thuẫn với điểm 8.
3. Chẳng có cái hiểu ngầm gì như thế ở đây cả. Bác Tuấn cũng quên không nhắc đến cụ thể là ngành gì, khoa gì, ở nước nào,...vì điểm này là quan trọng. Có thể trường hợp của bác (Y khoa, trường UNSW, Úc,...) là như vậy nhưng những ngành khác thì khác. Viết 1 bài báo cho đa số dân chúng đọc thì không thể viết chung chung như vậy được.
4. Cái này có thể bác Tuấn đúng trên cách nhìn của bác (do bác có nhiều citations for example) nhưng mình nghĩ bác quá critical. Nếu nói như bác thì mình đảm bảo rất đông các researchers, Profs,...ở Mỹ sản xuất ra báo "vô dụng" như cách nói của bác. Còn Profs ở Úc nơi bác đang làm việc thì số lượng báo "vô dụng" như vậy rõ ràng là...nhiều hơn nữa. Đôi khi viết báo là để training students, cho students tập làm nghiên cứu thì nói là những bài báo đó "vô dụng" thí có lẽ hơi critical.
5. Một lần nữa bác không trích nguồn nhưng mình nghĩ bác lấy từ wiki h-index. Tuy nhiên, trên wiki nói số liệu đó chỉ là cho physics và là ở major research universities. "Hirsch suggested that, for physicists, a value for h of about 10–12 might be a useful guideline for tenure decisions at major research universities. A value of about 18 could mean a full professorship, 15–20 could mean a fellowship in the American Physical Society, and 45 or higher could mean membership in the United States National Academy of Sciences."(wiki) Có lẽ bác Tuấn lấy tiêu chuẩn từ leading universities để criticize việc phong GS/PGS ở VN thì hơi khập khiễng. Các ngành như Economics, viết báo có citations đã là may, nói chi đến h-index 15, 20 này kia, mà là ở trường tốt ở Mỹ.
6. Chẳng có ai nói lên được điều này cả. Trên thế giới trong 1 lĩnh vực có hàng ngàn Profs, ai cũng lãnh đạo hướng hẹp mình làm thì it doesn't make alot of sense, right? Trừ khi những người đó làm mấy cái chẳng ai làm theo. Nói theo kiễu bác Tuấn là students tốt nghiệp PhD phải là leading expert trong cái mình đang làm ==> potay. Có thể Prof là người ra 1 số kết quả tốt về hướng hẹp nào đó nhưng để là leader thì là chuyện hoàn toàn khác. Hoặc hơn nữa là bác chỉ nói về leading research universities trên thế giới và em biết chắc rằng số lượng này chỉ là...epsilon so với số lượng researchers, papers,...trên toàn thế giới.
7. Môt lần nữa, bác Tuấn quá critical và không rõ ràng ngành nghề nào mà bác Tuấn nói đến hoặc có thể áp dụng cái chuẩn này. 20%*20 = 6 bài báo trong tập san số 1 trong ngành để lấy tenure? Hơi khó đấy, thậm chí là ở major research universities của Mỹ chứ chưa nói đến nơi khác. Có mấy ai làm được 6 bài trong lúc làm Assistant Prof published trên Nature hay Science hay Cell nếu làm biology?
8. Ở Mỹ nếu chỉ tính Prof làm research (mà bác Tuấn hướng đến trong bài), mình không nghĩ là tuổi trung bình khi được phong GS là 55. Cao quá và có lẽ conflict với điểm thứ 2 ở trên. Có lẽ nếu bác cite nguồn thì sẽ rõ ràng hơn, có thể 55 chỉ cho ngành nào đó thôi, chứ không thể cho tất ca được.
Nhìn chung, có lẽ bác Tuấn đang implicitly lấy 1 chuẩn nào đó trong 1 ngành nào đó, ở trong 1 nhóm các trường (xịn) nào đó, ở 1 nước nào đó (Mỹ?) để criticize tiêu chuẩn phong GS/PGS ở VN thì quá thiếu thuyết phục. Nếu bác Tuấn có thể nói rõ những điểm này trong bài báo hoặc có trích dẫn rõ ràng hơn thì sẽ thuyết phục hơn.
Trong tình hình này, mình nghĩ thay vì kể chuyện trời trăng mây nước ờ cac nước tư bản thế này, thế kia, nếu mà GS Tuấn có thể propose được 1 cái chuẩn tương đối phù hợp với tình hình VN, và propose các methods đển enforce cái chuẩn đó thì cần thiết hơn. Ví dụ, PhD EE ở VN, có 7-10 bài báo trên IEEE transactions là được xét. Đào tạo được 2 chú PhD khác. Báo conferences không tính. Gọn nhẹ vậy thôi. Hehe.
__________________ 124 điểm. To view links or images in signatures your post count must be 10 or greater. You currently have 0 posts.
thay đổi nội dung bởi: Kev, 12-03-2009 lúc 01:42 PM |