Còn đây là danh sách: Nhân Vật có Ảnh Hưởng Nhất Trên Thế Giới của Tạp Chí Time
Tháng Năm vừa rồi (2009), báo Time có đưa lên danh sách 100 người mà họ cho là có ảnh hưởng nhất trên thế giới hiện nay (The Time 100 – The World’s Most Influential People). Một trăm nhân vật này được lựa trên nhiều lãnh vực: những người lãnh đạo, nhà cách mạng (Edward Kennedy, Gordon Brown, Hillary Clinton, Elizabeth Warren, Nicolas Sarkozy, Angela Merkel, Barack Obama, Norah-al-Faiz…), những người xây dựng, nhà tiên phong (T. Boone Pickens, Ted Turner, Brat Pitt, Suze Orman, Timothy Geithner, Nandan Nilekani, Stella McCartney, Robin Chase, Jack Ma…), những nghệ sĩ, diễn viên (Kate Winslet, Werner Herzog, Lang Lang, John Legend, Gustavo Dudamel, Tom Hank, Jay Leno, Judith Jamison…), những anh hùng, thần tượng (Michelle Obama, Richard Phillips, Seth Berkley, Micheal Eavis, Hadizatou Mani, Rafeal Nadal, George Clooney, Oprah Winfrey…).
Tôi xin dịch ra đây một vài người mà báo Time chọn họ là những nhà khoa học và những người có ý tưởng gây nhiều ảnh hưởng nhất thế giới. Một cái đặc biệt nữa của danh sách này là những bài vinh danh dành cho họ không do phóng viên báo Time viết, mà lại do những người nổi tiếng khác viết. Nó cho ta thấy cái khách quan và đa dạng của sự chọn lựa này. Dĩ nhiên ý chính của bài viết là lí do tại sao họ cho rằng người đó xứng đáng để làm một nhân vật có tầm lực mạnh mẽ trên thế giới đến như vậy. Nouriel Roubini, nhà kinh tế học
Paul Krugman, Nobel về Kinh tế năm 2008, viết.
Nouriel Roubini đã nói đúng. Trong khi những người như Alan Greenspan bác bỏ các quan tâm về giá nhà bán quá cao và tuyên bố rằng các ngân hàng đều vững mạnh hơn bao giờ hết, thì Roubini lên tiếng cảnh cáo là thị trường nhà cửa đang căng phồng như trái bóng và sẽ bùng nổ khiến hệ thống tài chính suy sụp một cách nhanh chóng. Và rồi sự việc đã xẩy ra y hệt như thế, ngay cả những lời tiên đoán hết sức cực đoan của Roubini đều trúng, nhiều khi còn hơn cả sự thật nữa.
Ông ta làm cách nào mà hay vậy? Trong khoảng mười năm đầu tiên bước vào nghề, Roubini, 51 tuổi, được nhiều người tin tưởng, nhưng ông lại không phải là một nhà kinh tế vĩ mô nổi tiếng. Khi cuộc khủng hoảng về tài chính ở châu Á xẩy ra năm 1997, ông tạo nên một trang web – RGE Monitor – mà sau đó trở thành một nơi mà mọi người thường xuyên tới viếng để tham khảo và học hỏi về những tin tức, dữ kiện, phân tích về kinh tế. Và trong tiến trình này, ông đã nhận thấy ngay ra – có thể là hơn cả những nhà kinh tế đương thời – cái nguy hiểm của sự ngu dại lẫn sự yếu kém trong hệ thống tài chính hiện nay.
Có khi nào Roubini nói sai không? Dĩ nhiên là có chứ sao không. Ai cũng vậy cả. Bốn năm trước, ông đã tiên đoán là Trung quốc sẽ ngừng tồn trữ hàng tỉ dollars tiền tích trữ, khiến cho đồng dollars bị phá giá và sẽ gây trở ngại cho hệ thống tài chính nườc Mỹ. Ông đã sai, và dĩ nhiên trong tương lai, ông sẽ còn sai nữa.
Nhưng không phải ông hên nên mới nói trúng. Và cũng đừng cảm thấy khó chịu với lối viết nặng nề của ông: những cảnh cáo của ông đều dựa trên các mô hình phức tạp và những phân tích dữ kiện một cách cẩn thận, nên phần lớn ông đều nói trúng, không những về mặt tổng quát mà còn cả về chi tiết. Ông tiên đoán là ngân hàng sẽ lỗ 2 nghìn tỉ dollars khi mọi người đều cho rằng con số đó chỉ lên tới vài trăm tỉ là cùng, phần lớn là vì ông sớm nhận ra cái nguy hiểm của nợ dưới chuẩn. Bây giờ, ngay cả Quĩ Tiền tệ Thế giới cũng tiên đoán là nước Mỹ sẽ mất khoảng 3 nghìn tỉ dollars hay nhiều hơn nữa.
Vậy thì Roubini có phải là một nhà tiên tri đại tài không? Phải. Nên nhớ rằng người ta thường không tin vào những lời nói của hạng người đó, tới khi nó đều trở thành sự thật. Amory Lovins, Nhà cách mạng xanh
Carl Pope, giám đốc Sierra Club, viết
Năm 1976, Amory Lovins đã có giải pháp về vấn đề năng lượng. Nhưng chúng ta phải cần 33 năm sau mới theo kịp với ông. Trong khoảng thời gian cấm vận dầu hỏa Ả Rập năm 1973, Lovins viết một bài nghiên cứu đăng trên tạp chí Foreign Affairs so sánh giữa hai đường lối để thoát khỏi cơn khủng hoảng năng lượng mà ông gọi là lối “cứng” và lối “mềm”.
Trong lối “cứng” mà nhiều người hưởng ứng, người ta dùng đủ mọi cách để tìm kiếm và tích trữ dầu lửa. Còn lối “mềm” thì người ta phải tìm ra nguồn năng lượng mới và năng lượng tái tạo. Năm 1982, Lovins, sau khi học xong ngành vật lí và nghệ thuật tại Harvard và Oxford, lập nên viện Rocky Mountain Institute để tiếp tục rao giảng về cách mạng xanh. Bây giờ, 61 tuổi, ông ta đang thấy những điều ông nói được mọi người coi là kinh điển, và nó giúp nhiều cho sự chuyển tiếp từ dầu hỏa sang năng lượng xanh.
Sự chờ đợi quả thật là quá dài – hơn 30 năm chứ đâu có ít – nhưng sự kiên nhẫn của Lovins đã đưa tới những kết quả khôn lường. Yoiricho Nambu, nhà vật lí học
Walter Isaacson, tác gỉa cuốn “Einstein: His Life and Universe”, viết
Nằm trên giường bệnh để chờ chết trong nhà thương ở Princeton,vậy mà Albert Einstein vẫn tiếp tục tới phút cuối cùng hí hoáy với những phương trình để gắng hoàn thành cho xong những lí thuyết về trường thuyết tổng hợp tất cả những hấp lực trong thiên nhiên. Trong khoảng thời gian này, những công việc đó đã trở nên phức tạp hơn, nhưng có thể vì vậy mà nó lại trở nên dễ dàng hơn, bởi những công cuộc nghiên cứu của một nhà vật lí người Nhật mà ông mới quen biết. Yoichiro Nambu tới làm việc tại Princeton năm 1952, sau khi mãn nhiệm trong quân đội Minh Hoàng. Sau một thời gian nghiên cứu với Einstein, ông chuyển qua đại học Chicago. Tại đây, ông bắt đầu tìm tòi về hiện tượng siêu dẫn, một hiện tượng mà trong đó vật chất không bị ảnh hưởng bởi sức cản của dòng điện, và khám phá ra rằng nó có thể được giải thích bởi một khái niệm mà ông gọi là “spontaneous symmetry breaking”.
Các khoa học gia luôn luôn tìm hiểu sự đối xứng trong vạn vật, nghĩa là họ đang cố hiểu ra cái luật tổng hợp được áp dụng cho tất cả mọi vật. Nambu nhận thấy rằng bất cứ một trường hợp nào mà nó đi ngược lại sự cân xứng thì nó sẽ tạo ra một hạt tử mới. Và từ đó, người ta đã khám phá ra khá nhiều hạt mới. Một trong những nhiệm vụ của Large Hadron Collider, một hệ thống gia tốc của các hạt tử ở Thụy sĩ bắt đầu hoạt động năm vừa rồi, là tìm ra sự hiện diện của hạt Higgs mà, theo Nambu, được tạo ra bởi sự bất tương xứng giữa điện từ trường và lực của hạt nhân nguyên tử.
Nhưng vào lúc 88 tuổi, liệu Nambu có thể giúp hương hồn của Einstein phối hợp được những hấp lực mà Thượng đế đã tách rời ra không? Có thể lắm. Thuyết của ông cho rằng những hạt tử hành sử như là được gắn liền với nhau bởi những sợi dây. Thuyết này là nền tảng của “thuyết dây” mà nhiều nhà vật lí hi vọng nó có thể dùng để giải những vấn đề hóc búa mà Einstein gặp phải khi ông còn sống. Do đó, vì những khám phá trong lãnh vực “thuyết dây” với lí thuyết bất tương xứng trong địa hạt nguyên tử mà Nambu đã được trao giải Nobel về Vật lí năm 2008. David Sheff, tác giả và là một người cha
Bác sĩ Nora Volkow, giám đốc viện National Institute on Drug Abuse, viết
David Sheff viết một cuốn sách tuyệt vời với một tựa đề rất là thích hợp, “Đứa Con Ngoan – Hành Trình Của Một Người Cha Qua Cơn Nghiện Ngập Của Người Con” (Beautiful Boy – A Father’s Journey Through His Son’s Meth Addiction), một cuốn truyện hấp dẫn mà tôi chưa bao giờ đọc được trước đó nói tới sự mất mát nơi người cha về một đời con trẻ vì nghiện ngập. Trong truyện này, Sheff, 53 tuổi, mô tả lại khi ông phải đối diện với việc sử dụng quá liều của đứa con, Nic, sự bó tay của ông trước nghịch cảnh bệnh nghiện tái phát, những ảnh hưởng không thể tránh được của sự cố này, và những khó khăn mà gia đình ông gặp phải sau đó.
Vẫn còn nhiều người cho rằng nghiện ngập là một thất bại về phẩm hạnh. Nhưng sau 20 năm nghiên cứu, người ta nhận thấy rằng đó là một căn bệnh tạo ra bởi những thiệt hại mà thuốc nghiện gây trên những mạch điện trong óc não, nơi điều khiển sự tự chủ của con người. Không may là thiệt hại này lại rất dai dẳng, nghĩa là cơn bệnh có thể tái phát bất cứ lúc nào, mặc dù người bệnh đã được cai nghiện hoàn toàn.
Bi kịch mà Sheff gặp phải cho thấy là xã hội đã không có một cái nhìn trung thực về sự nghiện ngập. Chúng ta chỉ chữa những chứng bệnh (quá liều, tai nạn xe cộ, ung thư, HIV, tâm thần) chứ không phải chính cái căn bệnh tật của nó. Tài nguyên về nghiên cứu và cách chữa bệnh nghiện chỉ chiếm một phần nhỏ trong công cuộc bắt bớ người nghiện cùng sự mất mát về năng suất con người. Cơ mà sự trừng phạt và lăng nhục người nghiện không giải quyết được vấn đề. Làm sao được? Khi khoảng 50 phần trăm sự nghiện ngập là do tính di truyền, và số còn lại là do ảnh hưởng của xã hội và văn hóa, thí dụ như là đời sống căng thẳng mà người bệnh kinh qua từ lúc còn bé.
Nic Sheff còn sống được tới ngày nay phần lớn là nhờ vào sự tận tình và tháo vát của gia đình. Nhưng nhiều người khác thì không được may mắn như vậy. Tiếng nói của David Sheff đã gióng lên và làm chúng ta phải hỏi tại sao, mặc dù chúng ta biết là nghiện ngập là một căn bệnh của óc não, chúng ta không thể chữa trị nó như tất cả những bệnh tật khác. Daniel Nocera, nhà hóa học
Fred Krupp, tác giả cuốn “Earth: The Sequel – The Race to Reinvent Energy and Stop Global Warming”, viết
Khi nào tôi thấy mệt mỏi vì những khó khăn mà ta đang gặp trong công cuộc tìm kiếm nguồn năng lượng mới và phương cách để ngăn chặn sự hâm nóng toàn cầu thì tôi cảm thấy khoan khoái hơn sau khi nói chuyện với nhà hóa học Daniel Nocera của trường đại học MIT. Nocera, 51 tuổi, đang tìm cách thoát ra khỏi thảm họa của trái đất này. Ông ta đang nghiên cứu một phương pháp mới để tạo nhiên liệu hydrogen từ nước, tức là phân tách nước bằng ánh sáng mặt trời, bắt chước theo sự quang tổng hợp của cây cỏ. Khám phá của ông có thể giải quyết nhu cầu năng lượng toàn cầu trong khoảng giữa thế kỉ này, bằng cách phân tách một phần ba lượng nước trong hồ bơi của trường MIT. Chúng ta chỉ cần có bao nhiêu đó là đủ để cung cấp năng lượng cho cả thế giới.
Từ lâu, khoa học gia đã biết cách phân li nước thành hydrogen và oxygen, nhưng không như ở cây cỏ, họ cần một nhiệt độ cao và những dung dịch đậm đặc, hoặc những chất xúc tác khan hiếm hay mắc mỏ như platinum. Chất xúc tác của Nocera là chất đầu tiên tạo bởi những chất tiện và rẻ (cobalt và phosphate), và nó có công hiệu trong những điều kiện dễ dàng: một li nuớc ở nhiệt độ bình thường.
Sự kiện quan trọng đưa đến cho Nocera cái ý tưởng thần kì này xẩy ra vào năm 2004, khi các nhà sinh học tìm ra cách thức cây cối dùng để phân tách nước. Họ biết rằng cái cơ chế này từ từ tiêu rã, khiến cho lá cỏ lúc nào cũng phải tái tạo nó từ ban đầu. Nocera nhận ra là các khoa học gia đã tốn hằng chục năm để tìm cách giữ cho chất xúc tác đó không tiêu rã là một điều sai lầm. Theo ông, họ nên để cho chất xúc tác tan rã, rồi dùng một số năng lượng mặt trời nho nhỏ để tạo nó trở lại, và cứ như vậy, tan rã, tái tạo, tan rã, tái tạo…
Để cho nó tự nhiên tan rã và rồi tạo nên một cái gì mới, mạnh mẽ hơn đã xẩy ra khắp nơi trong thiên nhiên. Đó cũng chính là một mô hình kì diệu để chúng ta dựa vào đó để thay đổi một kế hoạch năng lượng cũ rích bằng một cái mới mẻ và sạch sẽ hơn. Stephan Schuster và Webb Miller, nhà sinh học
J. Craig Venter, người đã thành công trong việc giải bộ mã di truyền của con người năm 2001, và giải bộ di truyền của chính mình năm 2007
Cho tới gần đây, chúng ta chỉ có thể hiểu được sự tiến hóa bằng cách nhìn vào các chủng loại đang sống và khảo nghiệm những mẫu thức biến thạch. Trong 15 năm qua, khả năng giải mã và phân tích DNA đã cho chúng ta biết một cách rành rọt tiến trình của sự tiến hóa. Tuy nhiên, với cả những tiến bộ này, chúng ta vẫn còn bị cản trở. Giải hết ra được bộ di truyền cua một loài vật đã bị diệt chủng - gồm cả nhiều loài mà chúng ta rất muốn biết - phần lớn là một điều không thể làm được. Vậy mà điều này bây giờ bắt đầu thay đổi nhờ vào công việc nghiên cứu của những nhà sinh học như Stephan Schuster và Webb Miller.
Năm vừa rồi, Schuster, 47 tuổi, và Miller, 65 tuổi, cả hai đều ở Penn State University, đã thành công trong việc giải mã DNA của một con voi sống khoảng 20000 năm trước. Làm được việc đó, họ đã giúp khoa học khắc phục một chướng ngại vật mà người ta cho là không thể vượt qua được. Phần lớn những nhà sinh học và di truyền học cho rằng DNA trong nhân tế bào tiêu rã nhanh chóng sau khi chết và do đó không thể dùng để phân tích được.
Schuster và Miller đã tìm được cách rút ra một phần của DNA tan rã trong lõi tóc nguyên vẹn của con voi sau khi nhuộm tóc đó bằng thuốc tẩy để tiêu trừ đi tất cả những dấu tích DNA của vi khuẩn. Khám phá tuyệt diệu này có thể giúp các nhà khoa học mở ra ổ khóa của những bí mật chứa trong hàng ngàn phẫu nghiệm cổ xưa được giữ trong bảo tàng viện. Nó cũng còn cho người ta một phương pháp tân kì để giải mã những di tích lịch sử mà chỉ nhờ một vài sợi tóc.
Nhiều người cho rằng bước tiến kế tiếp trong công việc quan trọng của Schuster và Miller là làm sống lại những loài vật đã bị diệt chủng. Cái này thì đã có người làm rồi, nhưng chỉ với những con virus nhỏ xíu và làm chết người của năm 1918. Dùng những phương cách tối tân, con virus này đã được tái tạo từ RNA trích ra trong xác một người bị cúm chôn vùi trong tảng băng giá. Tuy nhiên, việc này xẩy ra được chỉ vì bộ di truyền của con virus cúm được giữ hoàn toàn nguyên vẹn và chính xác.
Với tình trạng bất toàn và thiếu xót của bộ di truyền của con voi, chuyện tái tạo một con voi tiền sử đi tản bộ trên trái đất một lần nữa là một chuyện không tưởng. Tuy nhiên, công trình tiên phong của Schuster và Miller đương nhiên là sẽ khuyến khích người ta tìm ra nhiều cái mới lạ hơn nữa trong công việc phân tích DNA, để nhìn vào quá khứ và có thể quyết đoán tương lai. Nicholas Christakis, y sĩ và nhà xã hội học
Dan Ariely, giáo sư của trường Duke University và tác giả cuốn sách bán chạy nhất “Predictably Irrational”, viết
Trả lời cho câu hỏi làm sao để có một đời sống sung sướng, các nhà xã hội học thường có một câu trả lời thẳng thừng: Cứ sống chung với những người xấu xí hơn mình, nghèo hơn mình, lùn hơn mình, và với những người có chuyện lục đục trong gia đình hoặc có những đức con hư hỏng là xong ngay. Bạn sẽ so sánh mình với những người đó và rồi bạn sẽ thấy đời mình lên hương liền.
Nicholas Christakis, 47 tuổi, một y sĩ và nhà xã hội học ở đại học Harvard, không tin vào chuyện này. Dùng những dữ kiện từ một nghiên cứu gồm 5000 người trong khoảng 20 năm, ông cho là sự vui sướng có thể truyền từ người này sang người khác, y như bệnh cúm vậy. Khi những người sống gần chúng ta - bạn bè, họ hàng, hay những người chung quanh – sung sướng thì chúng ta cũng cảm thấy vui sướng theo. Thí dụ, khi một người sung sướng thì người bạn thân của anh ta, dầu có sống cách xa hằng cây số, cũng có một cơ may 15 phấn trăm sung sướng hơn. Điều ngạc nhiên hơn nữa là ảnh hưởng này có thể lan truyền trực tiếp tới người thứ ba: khi bạn của người bạn sung sướng thì ta cũng cảm được cái sướng đó, tuy rằng ta chưa hề quen biết với người đó.
Nó có nghĩa là khi ta sống chung với những người có hạnh phúc thì ta cũng sẽ cảm thấy hạnh phúc theo; nó cũng làm cho người gần ta thấy hạnh phúc; và nó cũng làm những người khác sống gần những người đó cảm thấy hạnh phúc hơn. Nhưng sự nối kết tập thể này không chỉ lan truyền những điều tốt lành trong đời sống mà thôi. Christais khám phá ra là tật hút thuốc và bệnh béo phì cũng có thể truyền nhiễm theo. Nếu ông đúng thì câu nói tôi có thể đoán biết con người của anh qua bạn bè mà anh quen biết quả nhiên có nhiều sự thật trong đó hơn là người ta thường nghĩ. Paul Ekman, nhà tâm lí học
Bill Bolte Taylor, nhà thần kinh cơ thể học và là tác giả cuốn “My Stroke of Insight: A Brain Scientist’s Personal Journey”, viết
Những dữ kiện từ thế giới bên ngoài liên tục truyền vào giác quan chúng ta và sau đó được xử lí và tích hợp bởi óc não để tạo thành ý tưởng, lời nói và hành động. Kèm theo những hình thái về truyền đạt kể trên là những biểu lộ ngoài mặt và những phản ứng sinh lí mà chúng ta gọi là ngôn ngữ cử chỉ (body language).
Nhờ Paul Ekman và nghiên cứu của ông về vẻ mặt, sự xúc động và sự che dấu, chúng ta đã hiểu rõ hơn bằng cách nào sự diễn cảm và cử chỉ mà chúng ta biểu hiện bề ngoài lại phản ánh trực tiếp tới những gì xẩy ra trong dây mạch thần kinh ở sâu trong óc não.
Năm 1996, khi tôi bị xuất huyết não ở màng óc bên trái, tôi mang chứng mất ngôn ngữ (aphasic) - tôi không hiểu được lời nói của người ta. Nhưng nhờ vào bán cầu não bên phải, tôi có thể đọc được những vẻ mặt và body language của những người săn sóc và chữa trị tôi.
Ekman, 75 tuổi, đã biến khả năng đọc phản ứng biểu hiện trên mặt của người ta thành một ngành khoa học toàn hảo. Trong những cuốn sách của ông, ông viết cho mọi người thấy sự hiểu biết của ông về sự kiện làm cách nào chúng ta “nói chuyện” với nhau mà không cần tới ngôn ngữ.
Nghiên cứu của ông sẽ một sự đóng góp lớn lao cho cơ quan hành luật, chống khủng bố và điều khiển đám đông. Nó còn có khả năng để thay đổi cách chúng ta hành sử với những người bị bệnh aphasic. Nhưng có lẽ quan trọng hơn hết là, trong một xã hội mà đạo đức giả và gian manh là một việc hiển nhiên, Ekman dạy cho chúng ta biết làm thế nào để nhận ra những dấu hiệu mong manh của sự thật. Nate Silver, nhà thống kê học
Bill James, tác giả cuốn “The Bill James Gold Mine 2009”, viết
Việc mà Nate Silver đang làm trong trang FiveThirtyEight.com – và đây là cách do tôi hiểu chứ không phải do chính anh mô tả - là tìm kiếm dữ liệu của cái mối trật tự trong vũ trụ bằng những bằng chứng, dữ kiện, và thống kê. Tất cả những chuyện xẩy ra trong chính trường đều bị bao phủ bởi dữ kiện. Cái mà Silver, 31 tuổi, rành, rất rành, là tìm kiếm và phối hợp những thông tin về chuyện bạn và tôi cho đó là những chuyện trời ơi đất hỡi nhưng thật ra nó có thể là những điều “coi vậy mà không phải vậy”.
Silver rất giỏi trong việc tránh né những truy nguyên mà chỉ có lợi cho anh - tức là chứng minh những điều anh tin tưởng. Chúng ta hãy lấy một thí dụ: chuyện hôn nhân đồng giới tính. Không phải Silver không có một chính kiến về vấn đề này; dĩ nhiên là anh có đấy. Nhưng cái hay là anh không bắt đầu phân tích sự kiện này dựa trên quan điểm của anh mà anh bắt đầu bằng những dữ liệu. Anh tìm ra hết những biểu quyết khen chê liên quan tới chuyện hôn nhân đồng giới mà anh có thể kiếm được - tất cả trưng cầu ý nguyện, tất cả khảo sát, tất cả những nhân tố liên hệ. Rồi sau đó anh truy ra khía cạnh nào có thể giải thích được tại sao người ta lại thay đổi thái độ với sự kiện này. Công chúng nghĩ gì về vấn đề này vào năm 2004? Và vào năm 2006? Còn bây giờ thì sao? Những con số từ bang Nebraska ra sao? Còn từ bang California? Con số từ bang Nebraska khác với bang California như thế nào?
Sau khi khảo sát tất cả những dữ kiện này, anh đi tới một kết luận: hôn nhân đồng giới sẽ thu thập thêm được sự ủng hộ của công chúng tương đương với sự tăng 2 điểm mỗi năm, và trong vòng hai hay ba năm tới, những người ủng hộ sẽ bắt đầu thắng thế trong những cuộc bầu cử, và nó sẽ xẩy ra ở bang California, Nebraska và Arkansas.
Anh có đúng không? Tôi không biết. Cái quan trọng không phải là anh đúng bao nhiêu trong lời tiên đoán đó, mà là, sau khi đọc lời phân tích của anh, bạn thật sự biết thêm được những điều mà bạn chưa biết tới trước đó. Trong một thế giới đầy dẫy những xảo ngôn, mị ngữ, thì cái loại phân tích này đang được mọi người ưa chuộng một cách nhiệt liệt – với nhiều tin tưởng. Doug Melton, nhà sinh học/chuyên gia về tế bào gốc
Orrin Hatch, thượng nghị sĩ của đảng Cộng hòa Mĩ, viết
Chúng ta cần một lòng dũng cảm để khám phá một lãnh vực mới và hoàn thành một sứ mạng nào đó mà người khác không hề làm được. Douglas Melton, 55 tuổi, đã cho ta thấy lòng dũng cảm đó khi ông quan tâm tới những đứa con bị bệnh tiểu đường của ông và áp dụng nó vào một địa hạt khoa học vẫn còn nhiều bàn cãi - tế bào gốc - để giúp ích cho mọi người.
Thật là may mắn là Melton, một nhà sinh học phân tử của đại học Harvard, đã có kinh nghiệm nghiên cứu về những trường hợp phức tạp khiến con trai và con gái của ông mắc bệnh. Ông đã khảo sát về cấu trúc tế bào của nhái và chuột - cả hai vật đều là mô hình hoàn hảo cho những nghiên cứu về tế bào. Thiên tài của ông trong lãnh vực này đã khiến ông khám phá ra một dòng tế bào gốc mới để có thể một ngày nào đó thay thế những tế bào hư hại của tụy tạng - nguồn gốc của bệnh tiểu đường. Quan trọng hơn nữa là phương pháp của ông đã làm cho những cuộc tranh luận về tế bào gốc trở nên vô dụng vì tế bào mà ông dùng không khởi nguồn từ phôi thai, mà là từ tế bào da của người lớn.
Những lợi ích trong công việc của Melton không chỉ ở bệnh tiểu đường. Qua công cuộc nghiên cứu của ông, những tế bào của người lớn trong tương lai có thể được biến đổi thành nhiều mô khác để thay thế những tế bào hư hại của con người. Một ứng dụng đang được tiến hành, với những tế bào gốc mới để thay thế những tế bào óc tạo ra dopamine trong bệnh nhân với bệnh Parkinson’s. Không phải là quá đáng khi ta cho rằng bệnh Parkinson’s có thể chữa được trong một ngày gần đây – và chính cuộc nghiên cứu của Melton là bước tiên khởi cho công cuộc đó.
Có người cho rằng bàn tay của Thượng đế đã dẫn dắt Melton tới con đường tiên phong này. Nhưng dù với bất cứ lí do và hoàn cảnh nào, chính ý chí và tính kiên trì của Melton đã khiến cho ông ta tạo ra những thành quả lớn lao trong lãnh vực của ông – giúp ích không những cho chúng ta, mà cho cả thế hệ mai sau.
__________________ Các triết gia chân chính thuộc về một chủng tộc đặc biệt. Họ sống trong một thế giới khác. |