Nhục nhã. Cả nước VN publish ko bằng 1 trường đại học của Phillipines
Bà con xem bài ở đây: [Only registered and activated users can see links. ]
Có 2 cái hình ko paste được. Min Mod sữa dùm. Cảm on nhiều
Tôi paste lại ở dưới:
Giáo dục bậc đại học ở Việt Nam: Khủng Hoảng và Phản Ứng (phần 1)
Giáo dục đào tạoThomas J. Vallely và Ben Wilkinson (tháng 11/2008)
Tqvn2004 chuyển ngữ với sự tham khảo bản dịch của Hồng Lĩnh
Theo Harvard Kennedy School
I. Dẫn nhập:
Bài tiểu luận này nhằm cung cấp cho các ủy viên phía Hoa Kỳ thuộc Ủy Ban Đặc Nhiệm Song Phương về Giáo Dục Đại Học (Higher Education Task Force) những phân tích về sự khủng hoảng của hệ thống giáo dục đại học Việt Nam. Chúng tôi bắt đầu bằng cách phân tích mức độ khủng hoảng và nguồn gốc của khủng hoảng. Kế đến, chúng tôi cân nhắc những nhân vật chính liên quan – chính phủ Việt Nam, người Việt Nam, và cộng đồng quốc tế - đã phản ứng ra sao trước tình trạng đó. Chúng tôi kết luận bằng cách nhấn mạnh rằng: việc đổi mới thể chế là một thành phần quan trọng để tạo ra nền móng cải cách giáo dục hiệu quả. Một bài luận ngắn về giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học ở Việt nam, do một nhà khoa học có tiếng người Việt, được gửi kèm theo đây trong phần phụ lục để tham khảo.
II. Mức độ khủng hoảng:
Quả thật là khó phóng đại hơn nữa sự nghiêm trọng của những thách thức mà Việt Nam phải đối mặt trong giáo dục đại học. Chúng tôi tin rằng, nếu không có những cải cách nhanh chóng và tận gốc dành cho giáo dục đại học, Việt Nam sẽ thất bại trong mục tiêu đạt tới các tiềm năng to lớn của mình [2]. Phát triển kinh tế ở Đông và Đông Nam Á cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa phát triển và giáo dục đại học. Mặc dù mỗi một quốc gia thịnh vượng nhất trong khu vực này – Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore và gần đây là Trung Quốc - đã đi theo những con đường riêng của mình, nhưng có một điểm chung trong sự thành công của họ là họ đã chuyên tâm đeo đuổi một nền giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học chất lượng cao. Những quốc gia kém thành công hơn trong khu vực Đông Nam Á – Thái Lan, Philippines, Indonesia – cho chúng ta một câu chuyện cảnh giác. Các quốc gia này thường không đạt chất lượng cao trong giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học, và họ đã thất bại trong việc phát triển những nền kinh tế hiện đại. Đây là một điều không lành cho tương lai của Việt Nam, bởi các trường đại học Việt Nam tụt lại khá xa đằng sau ngay cả những láng giềng kém mở mang của mình.
Bảng 1: Số bài báo đăng trên các tạp chí có cơ chế thẩm định chéo (peer-review) năm 2007
Việt Nam không có dù chỉ là MỘT trường đại học có chất lượng được công nhận. Không có một trường nào của Việt Nam xuất hiện trên bất kỳ bảng xếp hạng các đại học có chất lượng cao tại Châu Á được nhiều người biết đến nào. Về phương diện này, Việt Nam thua kém ngay cả so với các quốc gia khác ở Đông Nam Á. Phần lớn các quốc gia này đều khoe khoang rằng ít nhất một vài học viện đứng đầu của họ có mặt trong các bảng xếp hạng. Trường đại học Việt nam đa phần cách biệt với dòng kiến thức quốc tế, như những con số nghèo nàn trong bảng 1 đã chỉ ra, và giáo sư Hoàng Tụy đã khái quát rất rõ trong bài luận của mình [3].
Đại học Việt Nam không sản xuất được một lực lượng lao động có đủ trình độ đáp ứng cho nhu cầu kinh tế và xã hội Việt Nam. Các cuộc khảo sát do các cơ quan có liên hệ với Nhà Nước cho thấy có tới 50 phần trăm các sinh viên Việt Nam tốt nghiệp đại học xong đã không thể tìm được việc làm trong ngành nghề chuyên môn của họ, chứng tỏ có một khoảng cách to lớn giữa lớp học và thị trường công việc. Với mức độ 25 phần trăm giáo trình đại học bị bắt buộc tập trung vào các môn học chính trị giáo điều (political indoctrination) thì chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi sinh viên Việt Nam chỉ được chuẩn bị một cách tồi tệ cho công việc tương lại hoặc cho các học trình cao đẳng ở nước ngoài.
Sự kiện công ty Intel đã phải lăn lộn vất vả để mướn các kỹ sư cho cơ sở sản xuất của họ ở TP HCM là một ví dụ điển hình. Khi Công ty này tiến hành một cuộc thi tuyển cho 2000 sinh viên IT Việt Nam thì chỉ có 90 ứng viên, tức 5%, đạt tiêu chuẩn. Và trong nhóm này, chỉ có 40 ứng viên vừa hội đủ trình độ Anh ngữ để có thể mướn được. Công ty Intel “khẳng định” rằng đây là kết qủa tồi tệ nhất mà họ gặp phải trong bất kỳ quốc gia nào mà họ đầu tư vào. Các nhà đầu tư Việt Nam và quốc tế nói rằng việc thiếu hụt công nhân và lực lượng quản lý có trình độ là rào cản lớn đối với sự mở rộng của họ. Chất lượng giáo dục đại học nghèo nàn đã có một ảnh hưởng tiêu cực khác: Trái với những sinh viên Trung Quốc và Ấn Độ, sinh viên Việt nam thường khó cạnh tranh để chiếm một xuất học bổng tại các chương trình giáo dục trên đại học tinh túy tại Mỹ hay Châu Âu.
Bảng 2: Chỉ số Phát Minh Sáng Chế (Thống kê số lượng Bằng Phát Minh của các quốc gia trong vùng Đông Á - với Việt Nam nằm ở hàng cuối cùng với con số zero)
III. Nguyên nhân của khủng hoảng:
A. Di sản lịch sử:
Những vấn nạn Việt Nam đang phải đối đầu trong hệ thống giáo dục đại học ngày nay một phần là do hậu quả từ một lịch sử cận đại bi thảm của đất nước này.
Chế độ thực dân Pháp cai trị Việt Nam trong nửa sau thế kỷ 19 cho đến năm 1945 đã đầu tư rất ít vào hệ thống giáo dục đại học, ngay cả khi đem so sánh với các thế lực thực dân khác như Anh và Tây Ban Nha. Hậu quả là Việt Nam đã vuột mất cơ hội khi làn sóng cách tân thể chế giáo dục đại học quét qua phần lớn lục địa Châu Á trong những thập niên đầu của thế kỷ 20. Đây là thời gian rất nhiều học viện hàng đầu được thành lập tại vùng này.
Hậu quả là sau khi thu hồi độc lập, VN chỉ có một thể chế giáo dục đại học rất yếu kém để làm nền móng xây dựng (Đây là một điểm tương phản rõ rệt so với Trung Quốc, nơi mà, cho đến ngày nay, phần lớn các trường Đại Học hàng đầu đã được thành lập rất lâu trước cuộc cách mạng Cộng Sản). Giai đoạn Pháp thuộc, cộng với tổn hại từ chiến tranh, rồi đến giai đoạn cai trị độc tài nặng nề của chế độc xã hội chủ nghĩa, đã không phải điều kiện thuận lợi để tạo ra những học viện chất lượng cao cho nền giáo dục đại học.
B. Chính sách quản lý của Nhà Nước:
Nguyên nhân hiện đại tạo nên khủng hoảng là sự thất bại sâu rộng trong chính sách quản lý của Nhà Nước. Các đại học có phẩm chất cao từ Boston cho đến Bắc Kinh đều được hưởng những chính sách quan trọng mà không tồn tại ở Việt Nam [4]:
Vấn đề tự trị và tự quản tại đại học (Autonomy):
Tất cả các học viện tại Việt Nam đều phải chịu sự kiểm soát của một hệ thống quản lý tập trung cao độ. Chính Nhà Nước quyết định con số sinh viên được tuyển nhận, và (trong trường hợp các trường công lập) mức lương của các giảng viên. Ngay cả những quyết định về điều hành cũng như việc thăng thưởng của các Khoa Ban đều lệ thuộc vào sự kiểm soát trung ương. Hệ thống kiểm soát này gạt bỏ ra ngoài những khuyến khích cần thiết cho việc cải tổ và tiến thủ của các đại học.
Lương thưởng được dựa trên thâm niên và lương chính thức thấp kém đến nỗi các giảng viên phải làm việc phụ trội vượt mức mới đủ sống. Ngược lại với Trung Quốc, Việt Nam chưa có chế độ hậu đãi những chuyên viên tốt nghiệp từ nước ngoài.
Cơ cấu tuyển chọn dựa vào thành quả:
Tham nhũng tràn lan và ai cũng biết bằng cấp và tước vị là những thứ có thể mua bán tràn làn [5]. Hệ thống nhân viên cán bộ thì mập mờ và mọi sự thăng thưởng đều dựa trên những tiêu chuẩn bên ngoài khả năng học thuật, như mức độ thâm niên, lai lịch chính trị, lai lịch gia đình, cũng như sự móc nối cá nhân.
Giảng viên các Khoa và Ban quản trị cao cấp của hệ thống đại học có khuynh hướng bị thống trị bởi những cá nhân được huấn luyện từ Liên Xô hoặc Đông Âu, không nói được Anh ngữ và trong không ít trường hợp, tỏ ra ác cảm với các đồng nghiệp trẻ tuổi hơn được giáo dục từ Tây Phương.
Tiêu chuẩn và mối liên kết quốc tế:
Học tập nâng cao kiến thức là một hệ thống không có biên giới, nhưng các học viện tại VN thiếu hẳn những mối liên hệ quốc tế có ý nghĩa. Thực tế là các học giả trẻ, được đào tạo từ nước ngoài, thường dùng mối lo ngại rằng họ không thể cập nhật những nguồn kiến thức đương thời như một lý do khiến họ tránh né trở thành giảng viên tại ĐH Việt Nam. Như GS Hoàng Tụy mô tả, các học viện tại VN rất hướng nội và không lượng giá chính mình dựa trên tiêu chuẩn quốc tế.
Trách nhiệm (Accountability):
Đại học Việt Nam không phải báo cáo hoặc chịu trách nhiệm trước các cổ đông bên ngoài, cũng như trước cán bộ công nhân viên bên trong. Trong hệ thống ĐH công cộng, các nguồn tài trợ không dựa vào phẩm chất hoặc thành quả của trường. Tương tự như thế, tài trợ của Nhà Nước cho các công trình nghiên cứu được phân phát không dựa trên khả năng cạnh tranh, mà như là một hình thức lương bổng phụ trội.
Bởi vì số chỗ dành cho tuyển sinh trong các ĐH rất thấp – chỉ có 1 trong 10 học sinh thuộc lứa tuổi ĐH được nhận vào ĐH - do đó, ĐH Việt Nam không bị ép buộc phải cải tổ. Họ nắm một thị trường độc quyền, bởi chỉ có một số rất nhỏ mới đủ năng lực để ra nước ngoài học.
Tự do trong giáo trình:
Ngay cả khi so sánh với Trung Quốc, đại học Việt Nam tỏ ra nổi bật về mức độ kiến thức bị kiểm soát. Ngay cả khi các trường đại học đã được nhận một không gian thông thoáng hơn, một mạng lưới kiểm soát chính thức cũng như trá hình vẫn còn vây bọc, khiến các trường đại học Việt Nam vẫn ở trong tình trạng bị bóp nghẹt về tri thức, trong khi công chúng đang phản ứng ngày càng lớn.
* * *
Có rất nhiều hàm ý xuất phát từ những phân tích trên đây:
Thứ nhất, chướng ngại chủ yếu cho sự cải tiến trong nền giáo dục cao đẳng không nhất thiết là vấn đề tài chánh. Thực ra, tính theo phần trăm của GDP, Việt Nam tiêu nhiều hơn các quốc gia khác trong khu vực cho giáo dục. Và con số này chưa tính tới khoản tiền rất lớn mà các gia đình Việt Nam chi vào giáo dục cho con cái, tại nhà và ở nước ngoài. Cách sử dụng các nguồn tài chánh đó như thế nào là một vấn đề khác.
Thứ hai, đầu tư vào du học nước ngoài không đủ để cải tiến hệ thống. Trừ khi môi trường sinh sống và làm việc cho sinh viên du học được cải tổ, sẽ khó có thể lôi kéo được các sinh viên du học về công tác tại các trường đại học.
Bài viết này chả sai chỗ nào, có điều là cũng chả có điểm gì mới, kể cả so với những báo cáo do ngành GD VN tự tổng kết lấy.
Khác mỗi cái là giọng điệu có vẻ khắt khe hơn khi nhấn mạnh "sự cai trị độc tài của chế độ XHCN" như là nguyên nhân sâu xa và bao trùm của mọi yếu kém trong nền GD ĐH VN (thật ra nói thế thì ai chả nói được, vì GD cũng là biểu hiện tập trung của chính trị thoai).
Theo tinh thần của bài viết này, cải tổ GD ĐH VN = từ bỏ nền chính trị "độc tài".
Phản động quá [8)]
__________________ Fate leads my life, I own my spirit
Bài viết này chả sai chỗ nào, có điều là cũng chả có điểm gì mới, kể cả so với những báo cáo do ngành GD VN tự tổng kết lấy.
Khác mỗi cái là giọng điệu có vẻ khắt khe hơn khi nhấn mạnh "sự cai trị độc tài của chế độ XHCN" như là nguyên nhân sâu xa và bao trùm của mọi yếu kém trong nền GD ĐH VN (thật ra nói thế thì ai chả nói được, vì GD cũng là biểu hiện tập trung của chính trị thoai).
Theo tinh thần của bài viết này, cải tổ GD ĐH VN = từ bỏ nền chính trị "độc tài".
Phản động quá [8)]
Nói thế không đúng, đây là cái nhìn từ bên ngoài và và họ có nhiều phân tích so sánh với những nước có cùng hoàn cảnh (thuộc địa) ̣cũng như thể chế để chỉ ra nguyên nhân của các yếu kém. Chẳng hạn như đoạn này:
Trích:
Chế độ thực dân Pháp cai trị Việt Nam trong nửa sau thế kỷ 19 cho đến năm 1945 đã đầu tư rất ít vào hệ thống giáo dục đại học, ngay cả khi đem so sánh với các thế lực thực dân khác như Anh và Tây Ban Nha. Hậu quả là Việt Nam đã vuột mất cơ hội khi làn sóng cách tân thể chế giáo dục đại học quét qua phần lớn lục địa Châu Á trong những thập niên đầu của thế kỷ 20. Đây là thời gian rất nhiều học viện hàng đầu được thành lập tại vùng này.
Hậu quả là sau khi thu hồi độc lập, VN chỉ có một thể chế giáo dục đại học rất yếu kém để làm nền móng xây dựng (Đây là một điểm tương phản rõ rệt so với Trung Quốc, nơi mà, cho đến ngày nay, phần lớn các trường Đại Học hàng đầu đã được thành lập rất lâu trước cuộc cách mạng Cộng Sản). Giai đoạn Pháp thuộc, cộng với tổn hại từ chiến tranh, rồi đến giai đoạn cai trị độc tài nặng nề của chế độc xã hội chủ nghĩa, đã không phải điều kiện thuận lợi để tạo ra những học viện chất lượng cao cho nền giáo dục đại học.
hay một số đoạn khác so sánh về chính sách quản lý của nhà nước với Trung Quốc, một nước có thể chế chính trị giống như VN.
Đỏ: Mỹ thì bao giờ chả muốn Việt Nam từ bỏ nền chính trị "độc tài". Với họ thì đấy là điều đương nhiên, chả có gì phản động cả .
__________________ Stay hungry, never foolish - Hãy cứ khát khao, nhưng chớ dại khờ
Nội dung bài viết thì em ít bàn tới vì giờ cái gì cũng chỉ mang tính tham khảo. Nhưng giọng điệu của nó rõ là gay gẳt, thậm chí hơi 'chụp mũ' khi can thiệp vào tự do chính trị của nước khác bằng việc gọi đấy là nền CT 'độc tài' [8)]
Trích:
Mỹ thì bao giờ chả muốn Việt Nam từ bỏ nền chính trị "độc tài". Với họ thì đấy là điều đương nhiên, chả có gì phản động cả .
Àh, ý em là phản động khi nó được post lại trong PhdVN []
__________________ Fate leads my life, I own my spirit
Nội dung bài viết thì em ít bàn tới vì giờ cái gì cũng chỉ mang tính tham khảo. Nhưng giọng điệu của nó rõ là gay gẳt, thậm chí hơi 'chụp mũ' khi can thiệp vào tự do chính trị của nước khác bằng việc gọi đấy là nền CT 'độc tài' [8)]
Ờ thì mình gọi nó là đế quốc, xâm lược suốt cũng có sao đâu .
Trích:
Àh, ý em là phản động khi nó được post lại trong PhdVN []
Phản động hay không thì tùy vào cách nhìn và tiếp cận thôi. Không thích cách gọi là độc tài thì chắt lọc xem có thông tin gì mới là xong.
__________________ Stay hungry, never foolish - Hãy cứ khát khao, nhưng chớ dại khờ
Vietnam là một nước nhỏ xíu, giống như một thằng trẻ con gầy yếu đứng giữa các đàn anh to khỏe. Nên làm cái gì cũng lí nhí, nhìn trước nhìn sau. Các anh có ho he, chỉ trích thì cũng gật gù cho qua chuyện, còn dám chê trách các anh thì dễ bị ăn bạt tai như chơi.
Các bạn Pháp cũng đóng góp một phần không nhỏ trong chính sách ngu dân của dân Anamit. Với tư duy không cho dân bản địa được học hành và vơ vét tài nguyên thì việc phát triển nền tri thức của dân bản địa đúng là thứ xa xỉ. Chả thế mà có một sự khác biệt lớn giữa các nước do Pháp và Anh chiếm làm thuộc địa (VN vs. Hồng Kông).
Những lý do khác mà bài viết đã nêu ra thì cũng không hẳn là sai. Không biết nhiều nên không dám bàn luận.
__________________ Không có gì quí hơn độc lập tự do. Tốt nhất là không lấy vợ.
thay đổi nội dung bởi: haichit., 09-12-2009 lúc 03:07 AM
Có thể em lại hơi "nhạy cảm", nhưng em cho rằng việc đưa ra lập luận "thực dân Pháp trong thời kỳ cai quản VN đã đầu tư rất ít vào GD ĐH so với những nước thực dân khác" như là một trong những lý do cơ bản của sự tụt hậu của GD ĐH VN so với các nước thuộc địa khác trong khu vực là rất nặng tính chính trị. Rõ ràng nó làm mờ đi bản chất của mối quan hệ thực dân - thuộc địa, bởi lập luận này rất dễ dẫn người đọc đến assumption rằng nền GD của một đất nước [thuộc địa] phát triển đến mức nào là do sự đầu tư của một đất nước [thực dân].
Nhưng như em đã báo đấy, có thể là vì em nhạy cảm quá []
__________________ Fate leads my life, I own my spirit
Có thể người ta thay bằng câu: "Thực dân Pháp đã dùng chính sách 'ngu để trị' trong quá trình bóc lột các nước thuộc địa" thì sẽ bạn FH và mọi người vừa lòng hơn.
__________________ Không có gì quí hơn độc lập tự do. Tốt nhất là không lấy vợ.