[Only registered and activated users can see links. ]
Kỹ năng mềm” cho nhà khoa học
Hồi cuối năm 2008, trong một chuyến đi nói chuyện ở VN, tôi có dịp ra Hà Nội nói chuyện ở Viện lão khoa về đề tài viết bài báo khoa học. Phạm Hiệp là người phụ trách bản tin của Trường Đại học Quốc gia Hà Nội có nhã ý phỏng vấn tôi những chuyện chung quanh chủ đề này. Hôm đó, chúng tôi (Hiệp, NĐP bên Tia Sáng, và tôi) gặp nhau trong một quán cà phê nhỏ, mà NĐP và PH nói quán này là "quán tủ" của tụi sinh viên, và chắc chính vì thế mà cách thiết trí của quán cũng có tính văn hóa. Quán chỉ cách khách sạn Melia (nơi tôi ở) có vài bước đi bộ. Chúng tôi ngồi đó gần cả buổi sáng chỉ nói chuyện ... thế sự khoa học. Một kỉ niệm khó quên. Thật ra, tôi thấy Hà Nội cũng có cái nét quyến rũ của nó, nhưng còn vụ ăn uống thì chắc tôi cần phải có thời gian mới thích nghi được. Mà thôi, tôi lan man mất rồi. Mời các bạn theo dõi cuộc nói chuyện giữa chúng tôi ...
===
Kỹ năng mềm là khái niệm còn rất mới mẻ đối với giới khoa học Việt Nam. Nhà khoa học sẽ “chuyên nghiệp” và “thành công” hơn khi họ được trang bị kỹ năng này. Để hiểu rõ hơn về khia niệm này, Bản tin ĐHQGHN đã có cuộc trao đổi với GS. Nguyễn Văn Tuấn - Nghiên cứu viên cao cấp Viện Nghiên cứu Y khoa Garvan (Úc).
Trong tháng 12 vừa qua, ông có tham gia dạy một số khóa học liên quan đến các kĩ năng trình bày, viết báo cáo... cho các bác sỹ, dược sỹ tại Hà Nội. Ông có thể nói rõ hơn về khóa học này ?
Thật ra, đó chỉ là những buổi seminar về cách viết và công bố một bài báo khoa học trên các tập san y học quốc tế, và cách trình bày một nghiên cứu khoa học trong các diễn đàn khoa học quốc tế. Những chủ đề này nằm trong một loạt bài tôi đã viết từ trên chục năm qua, và nay có dịp trình bày trước các đồng nghiệp trong nước.
Trong bài nói chuyện về cách viết bài báo khoa học, tôi nói về qui trình vận hành của một tập san khoa học, đằng sau quyết định đăng hay không một công trình nghiên cứu, cách cấu trúc một bài báo khoa học và trình bày dữ liệu như biểu đồ và số liệu sao cho thuyết phục, logic, và sau cùng là cách viết cũng như dùng chữ cho chính xác và hay.
Trong bài nói chuyện về cách trình bày một nghiên cứu khoa học, tôi nói về những nguyên tắc cơ bản trong việc chuyển giao thông tin khoa học đến người nghe một cách hữu hiệu, những nguyên tắc về việc chọn màu sắc sao cho thích hợp với từng loại diễn đàn, cách chọn chữ và thiết kế biểu đồ cũng như bảng số liệu sao cho gọn nhẹ nhưng nói lên được thông điệp mình muốn chuyển giao đến người nghe.
Nói tóm lại tôi chỉ nói về những kĩ năng cơ bản của một nhà khoa học. Vì có cơ duyên phục vụ trong ban biên tập của nhiều tập san khoa học trên thế giới, nên tôi hiểu được cách vận hành và làm việc của các tập san này, vì thế tôi có thể trình bày những vấn đề mà người nước ngoài họ không thể chia sẻ với các đồng nghiệp trong nước.
Ðằng sau quyết định đăng một bài báo bao gồm những gì?
Khi bản thảo bài báo khoa học được nộp cho một tập san, tổng biên tập (editor-in-chief) đọc qua phần tóm lược (abstract), và dựa vào chuyên ngành của bài báo, sẽ giao cho một phó biên tập (associate editor) phụ trách, và người này chính là người có thẩm quyền quyết định “số phận” của bài báo. Thông thường, phó biên tập đọc qua bài báo, rồi quyết định xem có xứng đáng để gửi đi phản biện (peer review). Nếu bài báo có tiềm năng và xứng đáng, phó biên tập sẽ chọn 2 - 3 chuyên gia phản biện (phần lớn những chuyên gia này nằm trong ban biên tập của tập san). Sau 4 tuần (thời gian trung bình), các chuyên gia này gửi báo cáo phản biện cho phó biên tập. Nếu có một chuyên gia bình duyệt đề nghị từ chối bài báo thì thông thường phó biên tập sẽ gửi thư cho tác giả biết rằng tập san từ chối công bố bài báo.
Nếu tất cả chuyên gia phản biện không từ chối và yêu cầu sửa đổi, thì phó biên tập sẽ chuyển các phản biện này cho tác giả để chỉnh sửa (kể cả làm thêm thí nghiệm, thêm phân tích…). Sau khi chỉnh sửa, tác giả gửi lại bản thảo mới (và kèm theo những trả lời cho các câu hỏi mà chuyên gia phản biện nêu) cho phó biên tập. Nếu phó biên tập thấy tác giả trả lời đầy đủ, thì sẽ quyết định đăng hay không đăng. Nếu phó biên tập thấy tác giả chưa trả lời đầy đủ, thì tất cả hồ sơ sẽ chuyển cho các chuyên gia phản biện một lần nữa, và chu trình bình duyệt lại bắt đầu. Thông thường, một bài báo phải qua 2 - 3 lần phản biện, nhưng cũng có trường hợp mà tác giả phải kinh qua 6 lần phản biện. Một khi bài báo đã được chấp nhận hay không chấp nhận cho công bố, phó biên tập sẽ thông báo quyết định của mình cho tổng biên tập biết. Tính trung bình, thời gian từ lúc nộp bài đến khi quyết định cho công bố tốn khoảng 6 tháng. Nhưng cũng có khi thời gian kéo dài cả 1 hay 2 năm. Cố nhiên, trong các trường hợp bài báo được đánh giá là không xứng đáng ngay thì lúc ban đầu thì thời gian đi đến quyết định chỉ trong vòng 1 tuần.
Như vậy nhà khoa học ngoài khả năng chuyên môn cần phải có những kiến thức và kĩ năng nào khác?
Bạn đang nói đến kĩ năng mềm phải không? Theo tôi thì có 2 kĩ năng mềm mà các nhà khoa học Việt Nam cần phải cải tiến và học hỏi, đó là: Kĩ năng thông tin và ngoại giao. Kĩ năng thông tin ở đây là khả năng truyền đạt thông tin khoa học đến đồng nghiệp trong và ngoài nước qua viết và nói chuyện. Viết trên các tập san khoa học quốc tế đòi hỏi những kĩ năng về tiếng Anh (vì phần lớn tập san khoa học ngày nay sử dụng tiếng Anh) và cách biện luận, mà các đồng nghiệp trong nước đều rất yếu. Ðiều này thì có thể hiểu được vì tiếng Anh không phải là tiếng mẹ đẻ và theo kinh nghiệm của tôi, ngay cả những người đã từng đi du học ở các nước nói tiếng Anh cũng chưa thể viết hoàn chỉnh một bài báo khoa học vì làm được việc này đòi hỏi một thời gian “cọ sát” khá lâu mới trở thành chuyên nghiệp được. Ngay cả những nghiên cứu sinh mà tiếng Anh là tiếng mẹ đẻ cũng khó có thể viết một bài báo khoa học một cách chỉn chu.
Nói chuyện trong các hội nghị khoa học đòi hỏi những kĩ năng chẳng những về ngôn ngữ mà còn nghệ thuật. Tôi đã thấy nhiều đồng nghiệp trong nước nói chuyện trong các hội nghị khoa học quốc tế, và họ phạm phải những lỗi lầm hết sức cơ bản như chọn màu sắc không thích hợp, chọn font chữ sai, sử dụng quá nhiều hoạt hình màu mè, diễn giải không thông và logic, cách nói quá đơn điệu, không biết cách trả lời người chất vấn, v.v.… Có người nhầm lẫn giữa trả lời chất vấn và lên lớp, nên biến bài nói chuyện thành một buổi trao đổi thiếu tính chuyên nghiệp (nếu không muốn nói là khôi hài)!
Cộng đồng khoa học, cũng như xã hội, là một tập thể với những quan hệ đa chiều. Nhà khoa học phải phụ thuộc lẫn nhau để tồn tại và phát triển. Trong mối quan hệ đa chiều như thế, kĩ năng ngoại giao rất quan trọng trong việc quảng bá công trình nghiên cứu của mình.
Có nhiều nhà khoa học trong nước nghĩ rằng họ công bố kết quả nghiên cứu và thế là xong. Nhưng khoa học ngày nay cạnh tranh ác liệt, cạnh tranh để được ghi nhận. Trong bất cứ lĩnh vực nghiên cứu nào cũng có nhiều người cùng làm, và việc tương tác với đồng nghiệp để quảng bá nghiên cứu của mình là một kĩ năng rất cần thiết để thành đạt trong khoa học ngày nay. Tôi thấy đây cũng là một điểm yếu nhất của nhiều đồng nghiệp trong nước vì họ hầu như chẳng có ý niệm gì về lobby trong khoa học.
Lobby trong khoa học là một khái niệm còn khá mới mẻ đối với giới khoa học Việt Nam. Ông có thể nói rõ hơn?
Nói ra ý này tôi cũng nghĩ làm nhiều đồng nghiệp ngạc nhiên, vì ít ai nghĩ rằng trong hoạt động khoa học mà cũng có lobby và vận động. Chúng ta có câu "hữu xạ tự nhiên hương", với hàm ý nói nếu công trình nghiên cứu của mình tốt thì đồng nghiệp sẽ trích dẫn và ghi nhận. Nhưng rất tiếc là ngày nay lí tưởng đó khó tồn tại trong thực tế khoa học, ít ra là trong ngành y học mà tôi đang làm. Trong khoa học, luôn có nhiều nhóm cùng làm nghiên cứu về một đề tài, nhưng tại sao có những nhà khoa học hay công trình khoa học được ghi nhận và nổi tiếng hơn các đồng nghiệp và công trình khác. Ngoài lí do về chất lượng và ý nghĩa của nghiên cứu, tôi nghiệm ra một phần của câu trả lời là kĩ năng ngoại giao của nhà khoa học. Do đó, khi nói lobby ở đây, tôi muốn nói đến những kĩ năng làm cho công trình nghiên cứu của mình được ghi nhận, được đề cập và trích dẫn, và qua đó gây ảnh hưởng trong chuyên ngành.
Muốn cho công trình của mình được nhiều người biết đến thì nhà khoa học phải biết cách “chào hàng” ý tưởng và công trình của mình trong các diễn đàn khoa học, phải biết tận dụng tất cả cơ hội (kể cả tranh thủ các tập san) để quảng bá nghiên cứu của mình đến cộng đồng khoa học. Những bài báo tổng quan (review), bình luận (commentary), chương sách… là những cơ hội lí tưởng để giới thiệu những công trình nghiên cứu của mình đến đồng nghiệp quốc tế.
Nhưng để được mời viết những tổng quan hay bình luận thì cá nhân nhà khoa học phải có một vị thế uy tín trong môi trường khoa học và để tạo ra một vị thế đó, ngoài thành tích khoa học ra, cần phải có kĩ năng ngoại giao. Nói cách khác, nhà khoa học phải biết và tranh thủ ủng hộ của các nhà khoa học đàn anh, các nhóm nghiên cứu có tiếng trên thế giới để được nằm trong quĩ đạo của những người “elite” (tinh tú, xuất sắc - Bản tin ÐHQGHN).
Ông đánh giá kĩ năng của các nhà khoa học Việt Nam như thế nào?
Theo tôi thì câu trả lời là: Chưa. Các đại học nước ta chưa chuẩn bị tốt cho nghiên cứu sinh về các kĩ năng thông tin. Tôi đã dự rất nhiều hội nghị, hội thảo, khoa học trong nước và có thể nói rằng hầu hết các nghiên cứu sinh, thậm chí cả các giáo sư, thiếu kinh nghiệm trình bày một nghiên cứu khoa học cho mạch lạc, chưa am hiểu những qui ước trong việc soạn thảo powerpoint và nhất là chưa nói tiếng Anh thông thạo. Như tôi nói, tiếng Anh thì có thể thông cảm được vì nó không phải là tiếng mẹ đẻ, nên nếu có vài sai sót thì chắc chẳng ai phàn nàn. Nhưng một nhà khoa học cấp giáo sư mà trình bày một nghiên cứu quá sơ sài, quá cẩu thả, và bất chấp qui ước khoa học thì khó mà chấp nhận được. Trong thực tế, tôi đã thấy (và báo chí cũng có lần phản ảnh) về các nhà khoa học hàng đầu nước ta khi nói chuyện trong hội nghị quốc tế làm cho chủ tọa cứ lắc đầu. Do đó, tôi nghĩ những kĩ năng cơ bản như kĩ năng thông tin cần phải được đưa vào chương trình học bắt buộc (compulsory subject) cho sinh viên đại học. Trong khi chưa có những chương trình giảng dạy như thế, tôi nghĩ chúng ta có thể tổ chức nhiều khóa học theo dạng workshop cho các đồng nghiệp trong nước để chúng ta nhanh chóng làm quen với “luật chơi” khoa học ở ngoài.
Thế còn ở Ðại học New South Wales nơi ông đang làm việc, người ta tổ chức bồi dưỡng những kĩ năng này cho các nhà khoa học như thế nào?
Ở Ðại học New South Wales và Viện Garvan, chúng tôi có những khóa học chỉ chuyên dạy về cách viết một bài báo khoa học hay đơn xin tài trợ, cách viết một đơn xin học bổng, cách trình bày một nghiên cứu khoa học cho nghiên cứu sinh. Tôi cũng từng tham gia giảng dạy và soạn tài liệu về cách viết một bài báo khoa học, nên qua đó cũng có thể chia sẻ với các đồng nghiệp trong nước. Như vậy, muốn tiếp cận trình độ quốc tế, các nhà khoa học và các nhà quản lý đại học cần phải quan tâm đặc biệt đến kĩ năng mềm.
Theo ông, các đại học Việt Nam cần phải làm thế nào để các nhà khoa học có thể học hoặc tự học để nâng cao những kĩ năng này?
Ông bà ta có câu “Không thầy đố mày làm nên”. Nói đến “kĩ năng” là nói đến thực hành, và thực hành thì khó mà tự học được. Những bài giảng, kể cả bài giảng về cách viết bài báo khoa học, tràn ngập trên internet, nhưng không phải có những bài giảng đó là có thể viết một bài báo khoa học được. Bất cứ kĩ năng nào cũng cần phải học và tiếp cận với những người có kinh nghiệm.
Qua làm việc thực tế với các bạn trong nước, tôi thấy cái khó khăn lớn nhất là các đại học Việt Nam chúng ta thiếu những người có kinh nghiệm về các kĩ năng mềm này, đơn giản vì nhiều giáo sư và nhà khoa học nước ta chưa từng công bố các nghiên cứu khoa học trên các tập san quốc tế. Tuy ngày nay các đại học nước ta cũng có một số nhà khoa học được đào tạo từ nước ngoài, nhưng khả năng độc lập mà họ có thể công bố một công trình nghiên cứu trên các tập san quốc tế vẫn còn rất hạn chế. Do đó, chỉ có một cách hữu hiệu nhất là mời các chuyên gia nước ngoài về trực tiếp giúp trang bị các kĩ năng mềm này cho các nhà khoa học trong nước.
Một kinh nghiệm mà tôi thấy cần học từ các nước láng giềng như Thái Lan và Nhật là ở một số đại học lớn tại các nước này, người ta có hẳn một hay hai người ngoại quốc nói tiếng Anh chuyên làm nghề biên tập khoa học (scientific editor) cho trường. Khi nhà khoa học soạn xong một bản thảo, họ trực tiếp làm việc với các chuyên gia này để hoàn chỉnh bản thảo trước khi gửi đi nộp cho một tập san khoa học. Tôi thấy đây cũng là một mô hình thực tế có thể giúp nâng cao sự có mặt của khoa học Việt Nam trên trường quốc tế. Cộng đồng khoa học, cũng như xã hội, là một tập thể với những quan hệ đa chiều. Nhà khoa học phải phụ thuộc lẫn nhau để tồn tại và phát triển. Trong mối quan hệ đa chiều như thế, kĩ năng ngoại giao rất quan trọng trong việc quảng bá công trình nghiên cứu của mình.
===
Một số nguyên tắc khi đặt tựa đề cho bài báo khoa học
1. Nên cố gắng đặt tựa đề với một thông điệp mới. Làm được như thế rất dễ gây sự chú ý của người đọc. Ví dụ: “A novel relationship between osteocalcin and diabetes mellitus”, ở đây chữ novel có tác dụng gợi ra một cái mới và làm cho người đọc thấy thích thú.
2. Không nên viết tựa đề theo kiểu phát biểu (statement). Khoa học không có gì là bất biến và “sự thật” hôm nay có thể sai trong tương lai. Do đó những tựa đề như “Smoking causes cancer” nó chẳng những cho thấy sự ấu trĩ hay ngây thơ trong khoa học của tác giả mà còn làm cho người đọc cảm thấy rất khó chịu.
3. Không bao giờ sử dụng viết tắt trong tựa đề bài báo. Mỗi công trình nghiên cứu thường tập trung vào một vấn đề chuyên sâu nào đó, và nếu chúng ta sử dụng viết tắt thì chỉ những người trong ngành mới hiểu, còn người ngoài ngành không hiểu và đó là một thiệt thòi cho nghiên cứu của mình.
4. Không nên viết tựa đề theo kiểu nghịch lí. Những tựa đề nghịch lí là “Yếu A ảnh hưởng xấu đến X, nhưng tác động tốt đến Y”. Những tựa đề kiểu này có thể làm cho người đọc khó chịu, và có khi làm lẫn lộn vấn đề của nghiên cứu.
5. Tựa đề không nên quá dài hay nhiều chữ. Tựa đề có nhiều chữ làm khó đọc và làm cho người đọc… dễ quên. Thông thường, tác giả nên cố gắng đặt tựa đề dưới 20 chữ. Có nhiều bài báo mà tựa đề có khi chỉ một chữ!
Một số nguyên tắc khi trình bày Power Point báo cáo khoa học
1. Nên dùng font chữ không có chân và Sans Serif như Arial hay Tahoma để khán giả dễ đọc. Những font chữ có chân như Times New Roman hay Courier làm cho khán giả tốn nhiều thời gian hơn để theo dõi.
2. Nên dùng cỡ chữ từ 18 trở lên, vì chữ nhỏ hơn làm cho người có tuổi khó đọc, còn chữ quá lớn thì tốn nhiều không gian.
3. Tránh viết toàn bộ bằng chữ in hoa vì rất khó đọc, và gây ấn tượng là diễn giả đang la hét!
4. Nên chọn chữ tối trên nền sáng cho giảng dạy hay nói chuyện trong giảng đường nhỏ.
5. Nên chọn chữ sáng trên nền tối cho các báo cáo khoa học và trong các giảng đường rộng. Tránh chữ màu xanh lá cây trên nền màu đỏ vì dễ gây "ngộ độc màu" cho người theo dõi.
6. Không nên cho âm thanh chạy theo chữ. Không nên sử dụng hoạt hình quá nhiều, vì nó gây ấn tượng diễn giải là… trẻ con.
7. Không nên nhồi nhét quá nhiều thông tin và hình ảnh trong một slide, vì nó làm giảm sự chú ý và gây lẫn lộn cho diễn giả.
8. Không nên đọc slide! Ðọc slide gây ấn tượng “trả bài” và làm cho người nghe không có hứng thú theo dõi.
Một số yếu tố làm cho người nghe chán
Kết quả nghiên cứu trên 159 khán giả về những yếu tố làm cho người nghe cảm thấy chán và sao lãng vấn đề.
1. Diễn giả đọc slide (60%)
2. Chữ quá nhỏ (51%)
3. Câu dài và không có gạch đầu dòng (48%)
4. Chọn màu khó đọc (37%)
5. Chữ chạy lòng vòng, hoạt cảnh nhiều (25%)
6. Dùng âm thanh đệm vào chữ (22%)
7. Biểu đồ, hình minh hoạ quá phức tạp (22%)
Phạm Hiệp (thực hiện) [Bản tin ĐHQG Hà Nội - số 216, 2009)
Nhiều nhà khoa học coi nhẹ và có phần khinh thường "marketing" đề tài nghiên cứu của mình do chịu ảnh hưởng của thành kiến đối với việc quảng cáo: Marketing thường là thủ thuật "make-up" sản phẩm, và nhiều khi sử dụng những thủ thuật không đẹp để đánh lừa người dùng. Tuy nhiên bài viết trên đã chỉ rõ ra đây là một quan niệm chưa đúng đắn.
"Marketing trong khoa học" hoàn toàn có thể chấp nhân, điều cơ bản là người sử dụng nó phải xác lập rõ giới hạn tránh việc thổi phồng kết quả nghiên cứu.
Trích:
Muốn cho công trình của mình được nhiều người biết đến thì nhà khoa học phải biết cách “chào hàng” ý tưởng và công trình của mình trong các diễn đàn khoa học, phải biết tận dụng tất cả cơ hội (kể cả tranh thủ các tập san) để quảng bá nghiên cứu của mình đến cộng đồng khoa học. Những bài báo tổng quan (review), bình luận (commentary), chương sách… là những cơ hội lí tưởng để giới thiệu những công trình nghiên cứu của mình đến đồng nghiệp quốc tế.
Ở khu vực Châu Á, các trường đại học rất tạo đk cho các nhà khoa học marketing các nghiên cứu của mình: VD. Ở HQ, tôi được biết trường ĐH có một yêu cầu đối với PGS, GS là hàng năm phải có bao nhiêu buổi presentation về đề tài nghiên cứu tại các trường đại học khác. Chính vì vậy, tại VN (cụ thể là tại ĐHBKHN) hàng năm vẫn có các bác xách cặp tới giao lưu với cán bộ trong trường bằng các presentation về recent research. Tôi không rõ ở các nước khác thế nào nhưng ở VN nó còn rất xa lạ.
__________________
To view links or images in signatures your post count must be 10 or greater. You currently have 0 posts.
To view links or images in signatures your post count must be 10 or greater. You currently have 0 posts.
To view links or images in signatures your post count must be 10 or greater. You currently have 0 posts.
To view links or images in signatures your post count must be 10 or greater. You currently have 0 posts.
Wow, đọc bài của bác Tuấn này đúng là học hỏi (lại) rất nhiều điều. Hầu như tất cả các ideas bác Tuấn nêu đều rất chính xác. Khi ở Úc, có mấy lần nhậu nhẹt với bác Tuấn, công nhận là bác Tuấn tài năng đủ mặt. Chỉ 1 điểm là một người đi nước ngoài gần 30 năm lúc học highschool, giờ vẫn còn có thể viết research bằng tiềng Việt là em đã chưa gặp ai.
Đúng là bây giờ, trong thời buổi mà ai ai cũng làm research, canh tranh nhau rất ghe gớm, nếu không marketing thì chance để những người khác biết về mình, về research của mình là...thấp, trừ khi research của ai quá đột phá.
Marketing có thể thông qua review papers, book chapters... như bác Tuấn nói. Marketing thông qua personal website và được nhiều nguời làm. Các bác để ý web của Tarence Tao thì thấy liền. Dân Maths có ít người giỏi research như hắn nhưng có lẽ còn ít người hơn biết làm marketing như hắn. Hehe. Marketing cũng có thể là đi give talks, seminars liên tục như cocain...Cái này thì có khi chỉ áp dụng khi có kết quả nổi bật. Bên ngành em còn những người đi give talks liên tục, cùng một kết quả nên hiệu quả lan truyền khủng khiếp. Nhiều người chẳng ai đọc bài báo cụ thể mà biết kết quả gì, thế nào. Có vẻ các bác Hàn Quốc đi VN chỉ là để đối phó cho đủ chỉ tiêu.
__________________ 124 điểm. To view links or images in signatures your post count must be 10 or greater. You currently have 0 posts.
Hồi em mới vào Graduate school, có một ông GS rất quý em, nhưng rèn cho em rất kỹ chuyện viết bài. Hồi đó làm bài tâạ, viết term paper, ổng toàn chỉ cho em một nửa số điểm, no matter what I have done. Tức quá lên cãi nhau với ổng mấy lần, và ổng nói thẳng, "Tao đang training mày kỹ năng viết", "you are paid for the way you communicate, not for what you have done".
Và cuối khoá, ổng vẫn cho em A+, nhưng mà bài học đó em vô cùng thấm thía.
Kỹ năng mềm mà mình có thể tự làm và enjoy được mà bác Tuấn có nhắc trên là làm slides cho presentation. Em luôn tự động viên mình cố gắng học Powerpoint 2007 mà lazy dã man, toàn cứ beamer mà chơi. Các bác coi web này thì sẽ thấy professional speakers nó làm slides thế nào. He's probably the best speaker I've ever known.
[Only registered and activated users can see links. ]
Làm slides nó quan trọng cưc kỳ. Ở Caltech năm trước có job Assistant Prof join CS-Economics department, cái job này nghe nói là tailored made cho 1 tay học under Havard, CS ở CMU, làm rất nhiều kết quả nổi bật. Hắn đang ở Duke và Caltech muốn lấy tay này về. Tuy nhiên, trong lúc làm job talk, slides của hắn chán quá trời, dĩ nhiên tiếng Anh hắn ngon rồi. Mấy ông to đầu ngồi ở dưới chẳng impressed gì, bản thân em cũng thấy chán. Cuối cùng Caltech không offer cho hắn cai job đó. Mà bác biết rồi, cơ hội thuận thiện như vậy thì không có quá nhiều lần trong đời người làm research.
__________________ 124 điểm. To view links or images in signatures your post count must be 10 or greater. You currently have 0 posts.
Trong một bài thật dài của bác Tuấn, mình quả thật là không tìm được một ý nào không đồng ý, rất sâu sắc và informative.
Một điều mà theo hiểu biết của mình thì có lẽ giờ kỹ năng mềm quyết định phần lớn việc một bài báo có publish được không. Okie, mình narow lại là IEEE journals (TWC, TSP, TVT...). Trong một thời buổi mà quantity quan trọng hơn quality cho 99% người làm khoa học, ky năng mềm như là ngoại giao, quen biết đóng vai trò quá quan trọng. Khi submit một bài báo, Area editor coi authors, rồi gửi xuống Associate Editor rồi gửi cho reviewers. Nếu có quen biết thì mọi thứ sẽ vào tay ngưới quen biết handle thì việc publish sẽ là dễ dàng.
Trích:
Nhưng để được mời viết những tổng quan hay bình luận thì cá nhân nhà khoa học phải có một vị thế uy tín trong môi trường khoa học và để tạo ra một vị thế đó, ngoài thành tích khoa học ra, cần phải có kĩ năng ngoại giao. Nói cách khác, nhà khoa học phải biết và tranh thủ ủng hộ của các nhà khoa học đàn anh, các nhóm nghiên cứu có tiếng trên thế giới để được nằm trong quĩ đạo của những người “elite” (tinh tú, xuất sắc - Bản tin ÐHQGHN).
Cái này thì có lẽ applicable cho những người như....bác Tuấn. Hehe. Anh em mình toàn dân mới vào nghề thì cũng khó làm được. Các researchers ở nhà thì càng...impossible hơn quá. Cái này thì mới liên quan đến advantages của top schools. Khi bạn học top schools, làm việc với người có reputation,....thì việc làm quen, chơi với các nhóm khác ỡ những nơi khác khá dễ dàng nếu bạn có kết quả tốt. Ngược lại, it's just so tough.
__________________ 124 điểm. To view links or images in signatures your post count must be 10 or greater. You currently have 0 posts.
Kỹ năng mềm mà mình có thể tự làm và enjoy được mà bác Tuấn có nhắc trên là làm slides cho presentation. Em luôn tự động viên mình cố gắng học Powerpoint 2007 mà lazy dã man, toàn cứ beamer mà chơi. Các bác coi web này thì sẽ thấy professional speakers nó làm slides thế nào. He's probably the best speaker I've ever known.
Em hỏi off-topic chút, bác nói học Powerpoint 2k7 ở đây là sao? Cách sử dụng kiểu "FOR DUMMIES" như các tài liệu hay là các ứng dụng làm presentation hiệu quả?
Nếu là mục đích 1 thì bác tham khảo của bọn Lynda.com => Giáo trình theo kiểu video rất trực quan, bỏ 2 buổi ra để học là okie.
Còn để thực hiện được mục đích 2 thì quả là gian nan. Phải "cày sâu quốc bẫm" nhiều, tức là phải thực hành, xem các bác pro làm presentation thế nào để học tập, đọc các tài liệu có liên quan rồi cải thiện từng bước. . Em không biết người khác thế nào, chứ em hay vào [Only registered and activated users can see links. ] tham khảo các slide ở đây. Nói chung nó cũng tạp nham, nhiều thể loại nên mất thời gian lọc. Bác nào có tips gì về làm slide thì có thể share với anh em
__________________
To view links or images in signatures your post count must be 10 or greater. You currently have 0 posts.
To view links or images in signatures your post count must be 10 or greater. You currently have 0 posts.
To view links or images in signatures your post count must be 10 or greater. You currently have 0 posts.
To view links or images in signatures your post count must be 10 or greater. You currently have 0 posts.
Kỹ năng mềm mà mình có thể tự làm và enjoy được mà bác Tuấn có nhắc trên là làm slides cho presentation. Em luôn tự động viên mình cố gắng học Powerpoint 2007 mà lazy dã man, toàn cứ beamer mà chơi. Các bác coi web này thì sẽ thấy professional speakers nó làm slides thế nào. He's probably the best speaker I've ever known.
[Only registered and activated users can see links. ]
Làm slides nó quan trọng cưc kỳ. Ở Caltech năm trước có job Assistant Prof join CS-Economics department, cái job này nghe nói là tailored made cho 1 tay học under Havard, CS ở CMU, làm rất nhiều kết quả nổi bật. Hắn đang ở Duke và Caltech muốn lấy tay này về. Tuy nhiên, trong lúc làm job talk, slides của hắn chán quá trời, dĩ nhiên tiếng Anh hắn ngon rồi. Mấy ông to đầu ngồi ở dưới chẳng impressed gì, bản thân em cũng thấy chán. Cuối cùng Caltech không offer cho hắn cai job đó. Mà bác biết rồi, cơ hội thuận thiện như vậy thì không có quá nhiều lần trong đời người làm research.
Thanks bác Kev vì cái link rất hay! Trong đó có 1 presentation về PhD admission tips cho CS, cũng hữu ích cho các ngành khác nữa.
Kì này mình cũng đi học mấy buổi về Power Point 2007, rất thiết thực. Có mấy files tài liệu của courrse này nên share cho mọi người. Hope that helps. [Only registered and activated users can see links. ]
Thời buổi này thì cái gì cũng cần phải PR thì mọi người cũng biết tới. Việc quái gì phải tự hạ thấp mình. Những ai tự hạ thấp mình và không thích đề cao mình thì chỉ là loser thôi. Mình sinh ra, làm được việc đã là quí rồi, tại sao không tự hào về bản thân mình, lại để người khác phải coi thường. Đến tự mình không coi trọng mình thì làm sao mà người khác coi trọng được. Tiến sỹ không phải là bố thiên hạ nhưng không phải là dạng dưới đáy xã hội, ít nhất là thuộc dạng bậc trung, con cái sinh ra thì phần lớn được dạy dỗ tử tế, có điều kiện ăn học và hưởng trí thông minh từ bố mẹ. Cái đấy sao lại không tự hào?
Cave đi ngoài đường cũng phải khoe hàng, mời mọc thì mới có thu nhập cao. Tiến sỹ chả lẽ lại không bằng cave .
__________________
Bò không ăn cỏ bò ngu
Trai không gái gú trai ngu hơn bò.
thay đổi nội dung bởi: haichit, 07-10-2010 lúc 12:16 AM
Tôi thì thấy 2 cái đều tệ như nhau. Nhưng thôi, tôn trọng quan điểm khác biệt của bạn. Giả sử (a) hạ thấp mình còn tốt hơn (b) tự đề cao mình, song tốt hơn không có nghĩa là tốt. Tại sao chỉ nên đập (b) mà tha cho (a) trong khi chúng ta có thể đập cả 2?
Cái đề cao mình cũng cần phân biệt hoặc là tự cao tự đại hoặc là mình tự tin và nhận thức được đúng giá trị bản thân. Đơn giản giống như 1 sản phẩm, nếu mình không biết cách tiếp thị thì chẳng ai biết đến, chẳng ai mua. Giống như em thấy 1 kỹ năng quan trọng khi tuyển Prof mà em được đọc thì nó cũng rất quan trọng communication skills, đặc biệt trong các ngành chính trị và xã hội. Profs cũng phải kiếm được các dự án về mà làm chứ, mà nếu mình không biết cách boost mình lên, mở rộng quan hệ để người ta biết đến bên ngoài năng lực thực sự của mình.
__________________ On the road of becoming a Trusted Member [r32)]