Trang chủHomepage forum Main Diễn đàn AlbumAlbumn ảnh LibraryThư phòng LibraryPhDvn in Media LinkWeb Links BlogTrang cá nhân Member ListDanh sách thành viên New posts Bài viết mới Private MailThư của bạn Control PanelBảng điều khiển SearchGoogle search TiviTivi FAQLuật Ban chã FAQDownload/upload Center




 
Loading...
  Lost your password? Lost your Username? Make a new account!  
Vietscholar forum  
 

Connect with Facebook
Go Back   Vietscholar forum > Academic Life > Danh Nhân Khoa Học

Notices

Danh Nhân Khoa Học “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí mạnh thì nước thịnh, nguyên khí yếu thì nước suy"

PhDvn trên Facebook
Mời các bạn tham gia PhDvn /> </a><a onclick= Facebook group PhDvn và những người bạn.
Thông báo về cách thức tham gia online conference về hội thảo du học châu Âu

Trả lời
 
LinkBack Ðiều Chỉnh Kiếm Trong Bài
  #1 (permalink)  
Old 12-13-2009
nkd's Avatar
nkd nkd is offline
A dreamer
Points: 1,196, Level: 18
Points: 1,196, Level: 18 Points: 1,196, Level: 18 Points: 1,196, Level: 18
Activity: 0%
Activity: 0% Activity: 0% Activity: 0%
 
Tham gia ngày: Nov 2009
Đến từ: Mặt trăng
Bài gởi: 81
Thanks: 20
Thanked 25 Times in 15 Posts
Downloads: 0
Uploads: 0
Default Những nhà khoa học triển vọng nhất năm 2009

(Source: x-cafevn.org)
[Only registered and activated users can see links. ]

Một lần nữa, theo thông lệ hằng năm, tạp chí Popular Science lại đưa ra danh sách 10 nhà nghiên cứu có triển vọng nhất trong năm 2009 ở nước Mĩ.

Sự lựa chọn cho thấy cái quan trọng thứ nhất là công việc nghiên cứu của các khoa học gia này đều mới mẻ và lỗi lạc. Nó sẽ là nền móng của những tiến bộ khiến cho, trong tương lai, kiến thức nhân loại được mở rộng hơn và đời sống con người được bảo đảm hơn.

Cái quan trọng thứ nhì là tất cả các nhà khoa học được vinh danh này đều còn rất trẻ. Không một ai trong nhóm thiên tài này quá 40 tuổi. Điều này bảo đảm cho ta thấy chiều hướng chắc chắn chỉ có đi lên, không bao giờ lùi của khả năng ưu việt (hay đúng hơn, năng lực và trí óc) ở giới trẻ, xứng đáng với câu "hậu sinh khả úy".

PopSci viết: “Chúng tôi công nhận thế giới đang đối đầu với nhiều vấn nạn to lớn, tuy nhiên khi thấy những trí óc tài giỏi này đang cặm cụi tìm ra câu giải đáp thì thử hỏi trong chúng ta ai có thể chê bai chúng tôi là hi vọng thái quá hay không?” Đúng thế, với những khuôn mặt trẻ trung và tài ba như vậy, chúng ta có quyền có hi vọng. Hi vọng cho một tương lai sáng sủa hơn của thế giới.

Vậy thì công trình nghiên cứu của họ là gì? Và nó ảnh hưởng đến văn minh nhân loại như thế nào? Rồi nó nâng cao đời sống con người ra sao? Bạn sẽ lần lượt thấy câu trả lời ở dưới đây.

Những bài sau được viết dựa theo “PopSci 8th Annual Brilliant 10” , Popular Science, November 2009.
__________________
Các triết gia chân chính thuộc về một chủng tộc đặc biệt. Họ sống trong một thế giới khác.

thay đổi nội dung bởi: nkd, 12-13-2009 lúc 02:42 PM
Digg this Post!Add Post to del.icio.usBookmark Post in TechnoratiFurl this Post!
Trả Lời Với Trích Dẫn FaceBook
  #2 (permalink)  
Old 12-13-2009
nkd's Avatar
nkd nkd is offline
A dreamer
Points: 1,196, Level: 18
Points: 1,196, Level: 18 Points: 1,196, Level: 18 Points: 1,196, Level: 18
Activity: 0%
Activity: 0% Activity: 0% Activity: 0%
 
Tham gia ngày: Nov 2009
Đến từ: Mặt trăng
Bài gởi: 81
Thanks: 20
Thanked 25 Times in 15 Posts
Downloads: 0
Uploads: 0
Default

Thiên Văn Học

Người lang thang tìm sao trong vũ trụ: Marla Geha, 35 tuổi, Yale University

Được vinh danh vì: Cô đã khám phá ra những giải thiên hà gần như vô hình đang xoay vần chung quanh chúng ta, và thể đen kì bí tạo nên chúng.

Marla Geha đội nhiều thứ mũ, tùy theo cô nói chuyện với ai. Cô nói: “Khi tôi ngồi trong một máy bay thì tôi thường là một nhà vật lí học. Vì như thế mọi người để tôi yên, chẳng ai muốn nói chuyện với tôi cả.” Nhưng khi cô muốn gây ấn tượng với ai đó thì cô là một nhà vật lí học thiên thể. Và khi cô muốn dành vài tiếng đồng hồ để nói chuyện thì cô lại là một nhà thiên văn học.

Thật ra, Geha đều là cả ba nhà khoa học trên. Hiện là một giáo sư của đại học Yale, Geha bỏ cả ngày (và dĩ nhiên, cả đêm) để tìm ra những thiên thể mờ nhạt mà chúng có thể được tạo ra sớm hơn cả giải Ngân Hà của chúng ta. Mô hình của sự tiến hóa của giải Ngân Hà dự đoán có khoảng 1.000 thể dạng như vậy. Khi Geha bắt đầu làm việc 5 năm trước, các nhà thiên văn đã tìm ra 11 thiên thể rồi. Cô và nhiều người khác tin rằng còn có nhiều nữa, chúng ta không thấy được vì phần lớn chúng được tạo bởi thể đen, từ dùng cho những gì ngoài đó mà không phát ra ánh sáng nhưng lại là chất tạo nên 90 tới 95 phần trăm khối lượng của vũ trụ.

Trong công trình lí giải cái bí mật của cái mà người ta gọi là “vệ tinh thất lạc”, Geha đã khảo sát cặn kẽ bản đồ thuộc dạng số của vòm trời, hi vọng tìm ra những khu vực có sự tập trung khác thường của các vì sao. Sau đó cô cẩn thận đo lường vận tốc của mỗi ngôi sao. Cô ngạc nhiên thấy rằng chúng di chuyển quá nhanh so với kích thước của chúng - một chứng cớ rõ ràng là thể đen đã thúc đẩy những thiên thể đó.

Cho tới bây giờ, Geha và nhóm của cô đã khám phá thêm 14 thiên thể. Cô hi vọng sẽ tìm được đầy đủ để chứng minh cho thuyết tạo lập của vũ trụ, và cùng một lúc, có thể giúp cho những ngành khác xác định rõ tính chất của thể đen. Cô nói: “Những nhà thiên văn và nhà vật lí hạt tử thường không nói chuyện với nhau nhiều.” Trong tương lai, cô sẽ là người đứng giữa, giúp cho hai bên liên lạc với nhau một cách dễ dàng hơn.


Chất Liệu Sinh Học

Người tiếp sinh lực cho nhân gian: Ting Xu, 35 tuổi, University of California, Berkeley

Được vinh danh vì: Cô đã biến đổi phân tử trong ổ cứng nhỏ để nó có một khả năng lưu trữ đồ sộ.

Mùa thu năm vừa rồi, Ting Xu, giáo sư khoa học vật liệu của đại học Berkeley, bị nhức đầu kinh niên khiến bác sĩ lo ngại là có thể cô có bướu trong não. Nhưng một nhà thần kinh học cho rằng nguyên do của bệnh đơn giản hơn nhiều. Sao cô không giảm bớt thì giờ làm việc trong phòng thí nghiệm xuống dưới 16 giờ một ngày, ngủ kĩ, và ăn uống vào những giờ bình thường?

Sau đó, Ting Xu đã thu gọn chương trình làm việc của mình, nhưng không vì thế mà công cuộc nghiên cứu của cô bớt phong phú đi. Đầu năm nay, cô đã cùng viết với đồng sự một bài nói về kĩ thuật để làm cho những sợi polymer nhỏ xíu tự lắp thành 10 tỉ ống dài với những mẫu hình chính xác. Kĩ thuật này có thể dẫn tới những dĩa cứng nhỏ bằng đồng tiền mà chứa tới 175 cuốn DVD – 7 terabits dữ kiện. Rồi sau đó cô thay đổi kĩ thuật trên để nó có thể dùng tạo nên một số dụng cụ dựa trên hạt nanô, thí dụ như hệ thống ổ quang điện siêu hiệu suất và bộ trữ năng lượng, và màn ảnh mềm có độ phân giải cao. Nhà vật lí Thomas Russell của đại học Massachusetts cho rằng Xu rất thông minh, siêng năng, và biết nhiều, nhưng quan trọng hơn là “cô ta có khả năng sáng tạo.”

Và là một người trẻ trung nữa. Cô thích phim The Transformers. Cô coi phim hoạt họa Tom and Jerry thường xuyên - cảnh mèo chuột vờn nhau giúp cô suy nghĩ. Cũng như nhân vật trong phim, Xu, sinh ra tại Trung quốc, lúc nào cũng hoạt náo. Cô chơi bóng chuyền và chạy đua trong lúc khôn lớn, nhưng hai môn đó không làm cô mỏi mệt. Bố của cô đã từng hứa thưởng cho cô tiền nếu cô ngồi yên được trong 15 phút. Ông chưa bao giờ phải mất tiền, và cái năng lực đó tiếp tục thúc đẩy cô trong công việc cho tới ngày nay.

Sau khi tường trình về kĩ thuật tự tạo lập mà cô làm chung với Russell, ngay lập tức cô nhận ra cái khả năng vô biên của nó. Cô thấy rằng những sợi dây trên có thể dùng như những cần trục nhỏ để tạo ra những vật liệu nhỏ hơn và chế ra những thứ như dụng cụ điện tử cực nhỏ và tế bào năng lượng mặt trời mỏng như tờ giấy. Bằng cách ép cho những sợi này vào một thứ tự cơ bản của polymer, cô đã làm cho hằng tỉ sợi đó dàn hàng theo mô hình chính xác như ý cô muốn.

Xu hi vọng rằng nghiên cứu của cô sẽ làm cho việc sử dụng tế bào năng lượng mặt trời trở nên thuận lợi hơn so với nhiên liệu hóa thạch, nhưng cô không chỉ dừng ở nơi này. Cô luôn luôn moi ra ý kiến mới và phác thảo thí nghiệm để gây sự bất ngờ cho chính cô, chứ không phải để kiểm chứng một lí thuyết nào đó. Cô nói: “Cái quan trọng là phải suy tư về khoa học một cách trực giao chứ không phải một cách song song. Nếu không thì chúng ta chỉ làm một công việc sơn phết bề ngoài mà thôi.”


Khoa Học Người Máy

Người tạo ra máy tự động: Dennis Hong, 38 tuổi, Virginia Tech

Được vinh danh vì: Anh đã chế ra những người máy tinh vi không những bắt chước theo sinh vật học mà còn mang nhiều nguyên tắc của sự khéo léo và hiệu dụng.

Năm 1977, một đứa bé 6 tuổi viếng thăm Los Angeles từ Nam Hàn và đi coi phim Star Wars lần đầu tiên. Em đã bị thu hút bởi những chuyển động kì lạ của R2-D2 và khả năng liện hệ giữa người và robot của C-3PO. Và trên chuyến bay về nhà, Dennis Hong nhờ lại rằng: “Tôi biết ngay lúc đó là tôi sẽ tìm cách chế tạo robot trong suốt cuộc đời của tôi.”

Hong sinh ra ở California, nhưng khi anh được ba tuổi thì bố anh, một kĩ sư không gian vũ trụ, đem gia đình qua sống ở Seoul vì công việc làm. Hong sống ở đó cho tới năm thứ nhì đại học rồi anh chuyển trường qua đại học Wisconsin, và sau đó theo hậu đại học tại đại học Purdue. Anh nói: “Tôi học toàn về ngành kĩ sư cơ khí, chuyên về người máy.”

Ngày nay, Hong là trưởng phòng thí nghiệm về Robotics and Mechanisms của đại học Virginia Tech, nơi đã chế ra bàn tay máy sắc xảo đến độ nó có thể xử lí một trái trứng một các khéo léo, con rắn máy có thể leo lên cột điện để kiểm tra những công trình xây dựng, và người máy ba chân kích hoạt bởi xung lượng.

Hong cho biết: “Lúc tôi tới Virginia Tech, người ta cho rằng những gì về người máy chỉ toàn thuộc về trí khôn.” Nhưng anh lại muốn chuyên tâm vào những hệ thống cơ khí thể hiện trong thiên nhiên. Anh giải thích: “Chúng tôi không muốn bắt chước thiên nhiên; chúng tôi chỉ muốn dùng nguyên lí của nó mà thôi.”

Thí dụ như thiết kế của người máy ba chân quả thật là trông không được tự nhiên, nhưng nó lại bắt chước theo động lượng của dáng đi con người. Để bước tới, cái trục bật ngược lại, khiến cho một chân đong đưa giữa hai chân kia. Bàn tay người máy được điều khiển bởi khí ép, thay đổi sức mạnh của nắm tay mà không cần tới máy móc khác, y hệt như nắm tay con người khi co dãn các ngón là nhờ những thớ gân mềm dẻo.

Công trình nghiên cứu của anh hiện nay là robot có dạng thể của con người với cái tên là CHARLI (Cognitive Humanoid Autonomous Robot with Learning Intelligence). Nó dùng làm căn bản nghiên cứu về cử động của con người và là đối thủ trong Robocup 2010, một cuộc tranh giải mà những người máy đấu nhau trong các trận bóng đá.

Cái đích cuối cùng của Hong là anh hi vọng sẽ tạo ra người máy mà nó di chuyển một cách phong nhã và thích ứng như con người ta. Anh cho rằng cái chủ yếu là một sự nghiên cứu hoàn toàn tự do. Anh nhớ lại là ở Nam Hàn “Tôi lớn lên trong một môi trường mà người ta sợ hãi hay ngượng ngùng không dám lên tiếng. Trong phòng thí nghiệm của tôi không có cái vụ phê phán mà chỉ có sự cải tiến. Anh muốn đặt một lò nguyên tử trong người máy chăng? Được thôi. Chúng ta cứ tiến hành đi.”

Đề làm gương, Hong có một cách thức hữu hiệu để dùng những ý tưởng ít ức chế nhất của mình. Anh nói: “Kế giường ngủ, tôi luôn có một cuốn sổ và một cây bút. Mỗi đêm, tôi thấy những lằn ngang dọc, những vật với đủ màu sắc trong đầu. Tôi thức dậy lúc 4 giờ sáng để ghi xuống tất cả. Sáng hôm sau, tôi gõ vào kho dữ liệu các ý tưởng của tôi. Khi người ta hỏi tôi, muốn cái này hoặc cái nọ thì tôi liền tìm ra ngay những dữ liệu tương xứng.”
__________________
Các triết gia chân chính thuộc về một chủng tộc đặc biệt. Họ sống trong một thế giới khác.
Digg this Post!Add Post to del.icio.usBookmark Post in TechnoratiFurl this Post!
Trả Lời Với Trích Dẫn FaceBook
  #3 (permalink)  
Old 12-13-2009
nkd's Avatar
nkd nkd is offline
A dreamer
Points: 1,196, Level: 18
Points: 1,196, Level: 18 Points: 1,196, Level: 18 Points: 1,196, Level: 18
Activity: 0%
Activity: 0% Activity: 0% Activity: 0%
 
Tham gia ngày: Nov 2009
Đến từ: Mặt trăng
Bài gởi: 81
Thanks: 20
Thanked 25 Times in 15 Posts
Downloads: 0
Uploads: 0
Default

Công Nghệ Y Sinh

Người truyền giao cách cảm: Adam Wilson, 28 tuổi, Wadsworth Center, New York State Department of Health

Được vinh danh vì: Anh đã tìm cách giúp cho người khuyết tật điều khiển được máy móc.

Tháng tư vừa rồi, Adam Wilson đã trở thành người đầu tiên gửi một điện tín bằng thần giao cách cảm – trên mạng lưới xã hội giao liên Twitter. Anh viết: “USING EGG TO SEND TWEET,” ý nói trại đi cái máy điện đồ não (ECG) mà anh dùng để ghi lại những tín hiệu điện từ trong óc của anh qua mạng Twitter. Đội cái một cái mũ đỏ có gắn những sợi dây điện dính liền với máy vi tính, anh đánh vần từng chữ trong thông điệp của anh bằng cách tập trung vào những chữ bật lên trên màn hình trước mắt.

Qua cái hiện tượng cảm nhận từ xa đó, tham vọng sâu kín của Wilson là dùng kĩ thuật này để giúp những người đã mất khả năng thông tri với người khác vì họ bị đột quỵ hay bị chấn thương cột sương sống. Hiện nay anh đang phát triển những giao diện mạnh mẽ giữa máy móc và bộ não bằng cách gắn những sợi dây điện thẳng vào vỏ não, nơi mà anh có thể thu thập được tín hiệu từ óc mạnh hơn là trong thí nghiệm dùng máy điện đồ để gửi thư qua Twitter. Được khuyến khích bởi lòng yêu thích âm nhạc – Wilson chơi đàn điện từ khi anh học lớp bảy – anh còn dùng kĩ thuật mới mẻ này vào ngay khu kích thích thính giác của óc khiến cho những người bị bệnh thuộc hệ thần kinh có thể điều khiển con trỏ của máy vi tính qua cách tưởng nhớ tới tiếng chuông kêu của máy điện thoại di động.

Trong tương lai, cái thách thức kế tiếp của anh là chế tạo những hệ thống không dây để có thể chuyển đạt những ý nghĩ phức tạp. Thật ra, anh muốn hoàn thành ước muốn này để giúp thần tượng của anh là nhà vật lí học nổi tiếng Stephen Hawking, người đã bị bệnh teo cơ trầm trọng đến nỗi ông bị liệt hầu như toàn thân và phải mở cửa hay lái xe lăn bằng ý nghĩ. Wilson suýt soa nói: “Trời ạ. Tôi rất mong muốn được làm việc với ông ta.”


Di Truyền Học

Người đùa dỡn với luật lệ: John Rinn, 33 tuổi, Harvard University/Beth Isreal Deaconess Medical Center

Được vinh danh vì: Anh đã chứng minh những RNA “rác rưởi” là mấu chốt tiềm tàng của sức khỏe con người.

John Rinn có thói quen bất chấp luật lệ. Khi khôn lớn, anh thích trượt đá hay lướt tuyết hơn là đi học – anh thay đổi bốn trường trung học trong bốn năm và chỉ ra trường khi mẹ anh hứa cho anh một chiếc xe. Anh theo học ở đại học Minnesota vì anh cho nơi đó là chỗ tuyệt vời để anh ăn chơi và vọc tuyết. Nhưng trong khi phải nằm liệt giường sau một tai nạn trượt tuyết ở năm học thứ nhì, anh vỡ ý ra, cảm thấy hứng khởi sau khi đọc cuốn The Fountainhead của Ayn Rand. Anh tư hỏi: “Tôi phải làm gì cho những việc mà tôi quan tâm đến nhất?” Rồi anh bắt đầu vùi đầu vào những lớp về sinh học và nhận ra không những anh có khiếu về khoa học mà anh còn ham thích nó nữa. Anh đã đoạt điểm tối đa cho những lớp học và khám phá ra cái đã định đoạt sự nghiệp tương lai của mình: RNA.

Khoa học không làm giảm đi cái tính hay chống đối của anh. Anh đã đảo ngược cái lối suy nghĩ của các nhà sinh học về bộ di truyền con người. Mặc dầu giống như DNA, nhưng RNA luôn luôn được mang trách nhiệm phụ giúp cho DNA; nhiệm vụ quan trọng nhất của RNA là bật đèn xanh cho gen tạo nên proteins. Người ta còn cho một số RNA hoàn toàn không làm gì cả, tương đương với những chất cặn bã của tế bào. Nhưng năm 2003, lúc còn là một sinh viên ở đại học Yale, Rinn đã khám phá ra hằng ngàn loại RNA mới, gọi là large intervening non-coding RNAs, hay là LINCs, và sau đó anh đã chứng minh chúng đóng một vai trò khác hơn là chỉ điều hòa các gen - thật ra hình như chúng điều khiển tất cả những cơ chế cấu tạo proteins. Lúc đó, nhiều người cho rằng anh quá “nổ” và lố bịch. Rinn chua chát nói: “Lúc nào cũng thế. Cái gì mà người ta thiết tha tới đều bị coi là ngu dốt hết. Khoa học cổ điển chưa chín muồi để công nhận nó. Hầu như tất cả mọi người đều chưa chuản bị để công nhận nó.”

Và rồi vào năm 2007 anh đã làm cho những người nghi ngờ anh phải câm họng khi anh cho thấy một trong những LINCs đã giữ một chức vụ trọng yếu trong tế bào con người. Anh gọi đó là HOTAIR (rỗng tuếch) - một cái hất hàm khiêu khích cho những ai trong số nhiều nhà khoa học đã coi công việc nghiên cứu của anh là đồ bỏ. Cái phân tử đó đã đưa proteins tới một nhóm gen quan trọng và giúp điều hòa hệ thống miễn nhiễm, sức lan tràn của ung thư, tế bào mỡ, và sự sản xuất tế bào gốc, cùng nhiều thứ khác. Rinn cho biết: “Nếu ta có thể giải mã chúng thì chúng ta có thể khiến chúng ảnh hưởng tới bộ di truyền theo ý của chúng ta. Đây là một phương diện hoàn toàn mới lạ của ngành trị liệu và sức khỏe con người.”

Khám phá của anh không chỉ gồm có những RNA với chức vụ tinh vi. Trong năm 2006, anh đã có câu trả lời cho một câu hỏi về sinh học đã có từ lâu đời: Bằng cách nào tế bào non biết chúng sẽ đi tới đâu và sau đó chúng sẽ hành sử như thế nào? Bằng cách so sánh cách làm việc của gen trong toàn cơ thể con người anh đã khám phá ra một loại mã số di truyền dùng để định hướng và hướng dẫn tế bào.

Hiện anh vẫn còn đang tìm tòi thêm về LINC, hi vọng chúng sẽ giúp anh mở khóa bí mật của tế bào. Sau cùng thì Rinn yêu ngành di truyền cũng như anh yêu trượt tuyết vậy: “Tôi muốn lấy cái cũ, thay đổi nó đi một tí, rồi từ đó tạo ra cái mới.”


Toán Học

Người thử nghiệm tai nạn lưu thông mà không cần hình nộm: André Platzer, 30tuổi, Carnegie Mellon University.

Được vinh danh vì: Anh đã viết phần mềm để giúp lái máy bay, xe hỏa, xe hơi một cách an toàn hơn.

Thỉnh thoảng, một phát minh quan trọng nẩy ra khiến người ta không thể tưởng tượng rằng tại sao chúng ta lại có thể sống thiếu nó cho được. Thí dụ như dây thắt lưng an toàn, thuốc trụ sinh, vòi nước chữa lửa. Bây giờ chúng ta có thể kể thêm KeYmaera của André Platzer, một phần mềm giúp cho hệ thống an toàn điều khiển bởi máy vi tính không phạm vào những lỗi lầm chết người.

Hiện nay là một nhà khoa học về vi tính tại Carnegie Mellon, Platzer lớn lên ở nước Đức, nơi mà anh trở thành một vũ sư đại tài. Anh nói: “Tôi có thắng được một vài giải thưởng. Nhưng tôi lại mê máy tính nên tôi bỏ hết thì giờ vào nó.” Năm 2006, là một giáo sư của trường đại học Oldenburg ở Đức, anh bắt đầu tìm hiểu tại sao hệ thống lái tự động lại suy hỏng, không làm việc. Khi anh nhận ra người ta đã không có mô hình nào khả dĩ có thể dùng để thử nghiệm với nhiều trường hợp trong cùng một lúc, anh liền viết ra KeYmaera.

Trước đó, để tránh tai nạn đụng thẳng vào nhau, người ta phải lái hai phi cơ với cùng một tuyến bay đó rẽ tay phải, xoay nửa vòng tròn, hay rẽ phải một lần nữa. Khi người ta thử nghiệm KeYmaera để coi cái gì sẽ xẩy ra khi phi cơ bay với tốc độ khác nhau, độ cao khác nhau, tuyến đường khác nhau thí người ta thấy rằng, trong vài hoàn cảnh, thi hành những phương thức kể trên có thể làm cho hai máy bay đụng thẳng vào nhau. Platzer đã đưa những cảnh ngộ khác nhau vào lập trình KeYmaera đến khi nó chứng nhận hai máy bay đã luồn lách thoát khỏi tai nạn một cách an toàn.

Phần mềm của anh cũng đã giúp cho những chuyến xe lửa tốc hành bên Âu châu và những hệ thống thiết bị điều khiển đường trường trong các xe hơi hiệu chỉnh lại để tránh gây tai nạn chết người. Anh ghi nhận một cách thực tế: “Trước khi bỏ ra hằng tỉ đồng cho một hệ thống, chúng ta nên biết chắc chắn là nó sẽ mang lại thành công, phải không ạ.”


Công Nghệ Hoá Học

Người tinh thông về sự bé nhỏ: Micheal Strano, 33 tuổi, Massachusetts Institute of Technology

Được vinh danh vì: Anh đã dựa vào cái sức mạnh lạ lùng của công nghệ nanô để truy lùng bệnh ung thư.

Khi còn là một nhà nghiên cứu hậu tiến sĩ ở trường đại học Rice, giáo sư đỡ đầu của Strano đã cho anh một lời khuyên đơn giản. Anh kể lại: “Ông ta nói với tôi là ‘Nên khảo cứu về những vùng mà nhiều ngành giao thoa với nhau’. ” Tám năm sau, anh trở thành giáo sư thực thụ của trường MIT và là một nhà khảo cứu đứng đầu thế giới về quantum-confined materials, một ngành thuộc công nghệ nanô mà nó có thể thay đổi y học ung thư, năng lượng mặt trời, điện tử và nhiều ngành khác.

Cái hay ho của quantum-confined materials được dựa trên cái tính cực nhỏ của nó. Thí dụ như tuy nó, graphene, là một lớp carbon mỏng với bề dày của một nguyên tử, nhưng nó hành sử không như một nguyên tử carbon chút nào. Trong một chất dẫn điện như dây đồng, điện tử chạy băng băng. Nhưng trong graphene, điện tử lướt đi với tốc độ ánh sáng. Strano nói: “Nó như là một máy gia tốc nhỏ vậy.”

Graphene còn có thể dùng để làm công cụ chuyển vận năng lượng mặt trời; nó dẫn truyền một cách dễ dàng, rẻ, và mỏng đến độ có thể nhìn xuyên qua được. Anh nói: “Nó là một chất dẫn truyền mỏng nhất mà chúng ta có thể tưởng tượng được.”

Anh đặc biệt để ý tới công dụng trong y học của ống nanô. Cấu trúc nhỏ bé của nó phát ra những bức xạ hồng ngoại gần mà nó có thể đi xuyên qua da thịt con người một cách vô hại. Được chích vào tế bào, chúng có thể dùng làm những cảm biến sinh học nhạy cảm đến độ chúng có thể phát hiện ra chỉ một phân tử của một chất hoá học nguy hại.

Với có quá nhiều công việc phải làm, người ta không khỏi ngạc nhiên khi biết anh còn có ba đứa con đều dưới năm tuổi. Anh không cần thời gian để nghỉ ngơi à? Anh khoát tay: “Nhằm nhò gì. Khoa học chỉ là một trò chơi tiêu khiển cho qua thì giờ của tôi mà thôi.”
__________________
Các triết gia chân chính thuộc về một chủng tộc đặc biệt. Họ sống trong một thế giới khác.
Digg this Post!Add Post to del.icio.usBookmark Post in TechnoratiFurl this Post!
Trả Lời Với Trích Dẫn FaceBook
  #4 (permalink)  
Old 12-13-2009
nkd's Avatar
nkd nkd is offline
A dreamer
Points: 1,196, Level: 18
Points: 1,196, Level: 18 Points: 1,196, Level: 18 Points: 1,196, Level: 18
Activity: 0%
Activity: 0% Activity: 0% Activity: 0%
 
Tham gia ngày: Nov 2009
Đến từ: Mặt trăng
Bài gởi: 81
Thanks: 20
Thanked 25 Times in 15 Posts
Downloads: 0
Uploads: 0
Default

Những cái này có lẽ toàn là nghiên cứu ứng dụng cho nên không thấy vinh danh những người như bác Châu, nhỉ.
__________________
Các triết gia chân chính thuộc về một chủng tộc đặc biệt. Họ sống trong một thế giới khác.
Digg this Post!Add Post to del.icio.usBookmark Post in TechnoratiFurl this Post!
Trả Lời Với Trích Dẫn FaceBook
  #5 (permalink)  
Old 12-13-2009
nkd's Avatar
nkd nkd is offline
A dreamer
Points: 1,196, Level: 18
Points: 1,196, Level: 18 Points: 1,196, Level: 18 Points: 1,196, Level: 18
Activity: 0%
Activity: 0% Activity: 0% Activity: 0%
 
Tham gia ngày: Nov 2009
Đến từ: Mặt trăng
Bài gởi: 81
Thanks: 20
Thanked 25 Times in 15 Posts
Downloads: 0
Uploads: 0
Default

Còn đây là danh sách:

Nhân Vật có Ảnh Hưởng Nhất Trên Thế Giới của Tạp Chí Time

Tháng Năm vừa rồi (2009), báo Time có đưa lên danh sách 100 người mà họ cho là có ảnh hưởng nhất trên thế giới hiện nay (The Time 100 – The World’s Most Influential People). Một trăm nhân vật này được lựa trên nhiều lãnh vực: những người lãnh đạo, nhà cách mạng (Edward Kennedy, Gordon Brown, Hillary Clinton, Elizabeth Warren, Nicolas Sarkozy, Angela Merkel, Barack Obama, Norah-al-Faiz…), những người xây dựng, nhà tiên phong (T. Boone Pickens, Ted Turner, Brat Pitt, Suze Orman, Timothy Geithner, Nandan Nilekani, Stella McCartney, Robin Chase, Jack Ma…), những nghệ sĩ, diễn viên (Kate Winslet, Werner Herzog, Lang Lang, John Legend, Gustavo Dudamel, Tom Hank, Jay Leno, Judith Jamison…), những anh hùng, thần tượng (Michelle Obama, Richard Phillips, Seth Berkley, Micheal Eavis, Hadizatou Mani, Rafeal Nadal, George Clooney, Oprah Winfrey…).

Tôi xin dịch ra đây một vài người mà báo Time chọn họ là những nhà khoa học và những người có ý tưởng gây nhiều ảnh hưởng nhất thế giới. Một cái đặc biệt nữa của danh sách này là những bài vinh danh dành cho họ không do phóng viên báo Time viết, mà lại do những người nổi tiếng khác viết. Nó cho ta thấy cái khách quan và đa dạng của sự chọn lựa này. Dĩ nhiên ý chính của bài viết là lí do tại sao họ cho rằng người đó xứng đáng để làm một nhân vật có tầm lực mạnh mẽ trên thế giới đến như vậy.


Nouriel Roubini, nhà kinh tế học
Paul Krugman, Nobel về Kinh tế năm 2008, viết.

Nouriel Roubini đã nói đúng. Trong khi những người như Alan Greenspan bác bỏ các quan tâm về giá nhà bán quá cao và tuyên bố rằng các ngân hàng đều vững mạnh hơn bao giờ hết, thì Roubini lên tiếng cảnh cáo là thị trường nhà cửa đang căng phồng như trái bóng và sẽ bùng nổ khiến hệ thống tài chính suy sụp một cách nhanh chóng. Và rồi sự việc đã xẩy ra y hệt như thế, ngay cả những lời tiên đoán hết sức cực đoan của Roubini đều trúng, nhiều khi còn hơn cả sự thật nữa.

Ông ta làm cách nào mà hay vậy? Trong khoảng mười năm đầu tiên bước vào nghề, Roubini, 51 tuổi, được nhiều người tin tưởng, nhưng ông lại không phải là một nhà kinh tế vĩ mô nổi tiếng. Khi cuộc khủng hoảng về tài chính ở châu Á xẩy ra năm 1997, ông tạo nên một trang web – RGE Monitor – mà sau đó trở thành một nơi mà mọi người thường xuyên tới viếng để tham khảo và học hỏi về những tin tức, dữ kiện, phân tích về kinh tế. Và trong tiến trình này, ông đã nhận thấy ngay ra – có thể là hơn cả những nhà kinh tế đương thời – cái nguy hiểm của sự ngu dại lẫn sự yếu kém trong hệ thống tài chính hiện nay.

Có khi nào Roubini nói sai không? Dĩ nhiên là có chứ sao không. Ai cũng vậy cả. Bốn năm trước, ông đã tiên đoán là Trung quốc sẽ ngừng tồn trữ hàng tỉ dollars tiền tích trữ, khiến cho đồng dollars bị phá giá và sẽ gây trở ngại cho hệ thống tài chính nườc Mỹ. Ông đã sai, và dĩ nhiên trong tương lai, ông sẽ còn sai nữa.

Nhưng không phải ông hên nên mới nói trúng. Và cũng đừng cảm thấy khó chịu với lối viết nặng nề của ông: những cảnh cáo của ông đều dựa trên các mô hình phức tạp và những phân tích dữ kiện một cách cẩn thận, nên phần lớn ông đều nói trúng, không những về mặt tổng quát mà còn cả về chi tiết. Ông tiên đoán là ngân hàng sẽ lỗ 2 nghìn tỉ dollars khi mọi người đều cho rằng con số đó chỉ lên tới vài trăm tỉ là cùng, phần lớn là vì ông sớm nhận ra cái nguy hiểm của nợ dưới chuẩn. Bây giờ, ngay cả Quĩ Tiền tệ Thế giới cũng tiên đoán là nước Mỹ sẽ mất khoảng 3 nghìn tỉ dollars hay nhiều hơn nữa.

Vậy thì Roubini có phải là một nhà tiên tri đại tài không? Phải. Nên nhớ rằng người ta thường không tin vào những lời nói của hạng người đó, tới khi nó đều trở thành sự thật.


Amory Lovins, Nhà cách mạng xanh
Carl Pope, giám đốc Sierra Club, viết

Năm 1976, Amory Lovins đã có giải pháp về vấn đề năng lượng. Nhưng chúng ta phải cần 33 năm sau mới theo kịp với ông. Trong khoảng thời gian cấm vận dầu hỏa Ả Rập năm 1973, Lovins viết một bài nghiên cứu đăng trên tạp chí Foreign Affairs so sánh giữa hai đường lối để thoát khỏi cơn khủng hoảng năng lượng mà ông gọi là lối “cứng” và lối “mềm”.

Trong lối “cứng” mà nhiều người hưởng ứng, người ta dùng đủ mọi cách để tìm kiếm và tích trữ dầu lửa. Còn lối “mềm” thì người ta phải tìm ra nguồn năng lượng mới và năng lượng tái tạo. Năm 1982, Lovins, sau khi học xong ngành vật lí và nghệ thuật tại Harvard và Oxford, lập nên viện Rocky Mountain Institute để tiếp tục rao giảng về cách mạng xanh. Bây giờ, 61 tuổi, ông ta đang thấy những điều ông nói được mọi người coi là kinh điển, và nó giúp nhiều cho sự chuyển tiếp từ dầu hỏa sang năng lượng xanh.

Sự chờ đợi quả thật là quá dài – hơn 30 năm chứ đâu có ít – nhưng sự kiên nhẫn của Lovins đã đưa tới những kết quả khôn lường.


Yoiricho Nambu, nhà vật lí học
Walter Isaacson, tác gỉa cuốn “Einstein: His Life and Universe”, viết

Nằm trên giường bệnh để chờ chết trong nhà thương ở Princeton,vậy mà Albert Einstein vẫn tiếp tục tới phút cuối cùng hí hoáy với những phương trình để gắng hoàn thành cho xong những lí thuyết về trường thuyết tổng hợp tất cả những hấp lực trong thiên nhiên. Trong khoảng thời gian này, những công việc đó đã trở nên phức tạp hơn, nhưng có thể vì vậy mà nó lại trở nên dễ dàng hơn, bởi những công cuộc nghiên cứu của một nhà vật lí người Nhật mà ông mới quen biết. Yoichiro Nambu tới làm việc tại Princeton năm 1952, sau khi mãn nhiệm trong quân đội Minh Hoàng. Sau một thời gian nghiên cứu với Einstein, ông chuyển qua đại học Chicago. Tại đây, ông bắt đầu tìm tòi về hiện tượng siêu dẫn, một hiện tượng mà trong đó vật chất không bị ảnh hưởng bởi sức cản của dòng điện, và khám phá ra rằng nó có thể được giải thích bởi một khái niệm mà ông gọi là “spontaneous symmetry breaking”.

Các khoa học gia luôn luôn tìm hiểu sự đối xứng trong vạn vật, nghĩa là họ đang cố hiểu ra cái luật tổng hợp được áp dụng cho tất cả mọi vật. Nambu nhận thấy rằng bất cứ một trường hợp nào mà nó đi ngược lại sự cân xứng thì nó sẽ tạo ra một hạt tử mới. Và từ đó, người ta đã khám phá ra khá nhiều hạt mới. Một trong những nhiệm vụ của Large Hadron Collider, một hệ thống gia tốc của các hạt tử ở Thụy sĩ bắt đầu hoạt động năm vừa rồi, là tìm ra sự hiện diện của hạt Higgs mà, theo Nambu, được tạo ra bởi sự bất tương xứng giữa điện từ trường và lực của hạt nhân nguyên tử.

Nhưng vào lúc 88 tuổi, liệu Nambu có thể giúp hương hồn của Einstein phối hợp được những hấp lực mà Thượng đế đã tách rời ra không? Có thể lắm. Thuyết của ông cho rằng những hạt tử hành sử như là được gắn liền với nhau bởi những sợi dây. Thuyết này là nền tảng của “thuyết dây” mà nhiều nhà vật lí hi vọng nó có thể dùng để giải những vấn đề hóc búa mà Einstein gặp phải khi ông còn sống. Do đó, vì những khám phá trong lãnh vực “thuyết dây” với lí thuyết bất tương xứng trong địa hạt nguyên tử mà Nambu đã được trao giải Nobel về Vật lí năm 2008.


David Sheff, tác giả và là một người cha
Bác sĩ Nora Volkow, giám đốc viện National Institute on Drug Abuse, viết

David Sheff viết một cuốn sách tuyệt vời với một tựa đề rất là thích hợp, “Đứa Con Ngoan – Hành Trình Của Một Người Cha Qua Cơn Nghiện Ngập Của Người Con” (Beautiful Boy – A Father’s Journey Through His Son’s Meth Addiction), một cuốn truyện hấp dẫn mà tôi chưa bao giờ đọc được trước đó nói tới sự mất mát nơi người cha về một đời con trẻ vì nghiện ngập. Trong truyện này, Sheff, 53 tuổi, mô tả lại khi ông phải đối diện với việc sử dụng quá liều của đứa con, Nic, sự bó tay của ông trước nghịch cảnh bệnh nghiện tái phát, những ảnh hưởng không thể tránh được của sự cố này, và những khó khăn mà gia đình ông gặp phải sau đó.

Vẫn còn nhiều người cho rằng nghiện ngập là một thất bại về phẩm hạnh. Nhưng sau 20 năm nghiên cứu, người ta nhận thấy rằng đó là một căn bệnh tạo ra bởi những thiệt hại mà thuốc nghiện gây trên những mạch điện trong óc não, nơi điều khiển sự tự chủ của con người. Không may là thiệt hại này lại rất dai dẳng, nghĩa là cơn bệnh có thể tái phát bất cứ lúc nào, mặc dù người bệnh đã được cai nghiện hoàn toàn.

Bi kịch mà Sheff gặp phải cho thấy là xã hội đã không có một cái nhìn trung thực về sự nghiện ngập. Chúng ta chỉ chữa những chứng bệnh (quá liều, tai nạn xe cộ, ung thư, HIV, tâm thần) chứ không phải chính cái căn bệnh tật của nó. Tài nguyên về nghiên cứu và cách chữa bệnh nghiện chỉ chiếm một phần nhỏ trong công cuộc bắt bớ người nghiện cùng sự mất mát về năng suất con người. Cơ mà sự trừng phạt và lăng nhục người nghiện không giải quyết được vấn đề. Làm sao được? Khi khoảng 50 phần trăm sự nghiện ngập là do tính di truyền, và số còn lại là do ảnh hưởng của xã hội và văn hóa, thí dụ như là đời sống căng thẳng mà người bệnh kinh qua từ lúc còn bé.

Nic Sheff còn sống được tới ngày nay phần lớn là nhờ vào sự tận tình và tháo vát của gia đình. Nhưng nhiều người khác thì không được may mắn như vậy. Tiếng nói của David Sheff đã gióng lên và làm chúng ta phải hỏi tại sao, mặc dù chúng ta biết là nghiện ngập là một căn bệnh của óc não, chúng ta không thể chữa trị nó như tất cả những bệnh tật khác.


Daniel Nocera, nhà hóa học
Fred Krupp, tác giả cuốn “Earth: The Sequel – The Race to Reinvent Energy and Stop Global Warming”, viết

Khi nào tôi thấy mệt mỏi vì những khó khăn mà ta đang gặp trong công cuộc tìm kiếm nguồn năng lượng mới và phương cách để ngăn chặn sự hâm nóng toàn cầu thì tôi cảm thấy khoan khoái hơn sau khi nói chuyện với nhà hóa học Daniel Nocera của trường đại học MIT. Nocera, 51 tuổi, đang tìm cách thoát ra khỏi thảm họa của trái đất này. Ông ta đang nghiên cứu một phương pháp mới để tạo nhiên liệu hydrogen từ nước, tức là phân tách nước bằng ánh sáng mặt trời, bắt chước theo sự quang tổng hợp của cây cỏ. Khám phá của ông có thể giải quyết nhu cầu năng lượng toàn cầu trong khoảng giữa thế kỉ này, bằng cách phân tách một phần ba lượng nước trong hồ bơi của trường MIT. Chúng ta chỉ cần có bao nhiêu đó là đủ để cung cấp năng lượng cho cả thế giới.

Từ lâu, khoa học gia đã biết cách phân li nước thành hydrogen và oxygen, nhưng không như ở cây cỏ, họ cần một nhiệt độ cao và những dung dịch đậm đặc, hoặc những chất xúc tác khan hiếm hay mắc mỏ như platinum. Chất xúc tác của Nocera là chất đầu tiên tạo bởi những chất tiện và rẻ (cobalt và phosphate), và nó có công hiệu trong những điều kiện dễ dàng: một li nuớc ở nhiệt độ bình thường.

Sự kiện quan trọng đưa đến cho Nocera cái ý tưởng thần kì này xẩy ra vào năm 2004, khi các nhà sinh học tìm ra cách thức cây cối dùng để phân tách nước. Họ biết rằng cái cơ chế này từ từ tiêu rã, khiến cho lá cỏ lúc nào cũng phải tái tạo nó từ ban đầu. Nocera nhận ra là các khoa học gia đã tốn hằng chục năm để tìm cách giữ cho chất xúc tác đó không tiêu rã là một điều sai lầm. Theo ông, họ nên để cho chất xúc tác tan rã, rồi dùng một số năng lượng mặt trời nho nhỏ để tạo nó trở lại, và cứ như vậy, tan rã, tái tạo, tan rã, tái tạo…

Để cho nó tự nhiên tan rã và rồi tạo nên một cái gì mới, mạnh mẽ hơn đã xẩy ra khắp nơi trong thiên nhiên. Đó cũng chính là một mô hình kì diệu để chúng ta dựa vào đó để thay đổi một kế hoạch năng lượng cũ rích bằng một cái mới mẻ và sạch sẽ hơn.


Stephan Schuster và Webb Miller, nhà sinh học
J. Craig Venter, người đã thành công trong việc giải bộ mã di truyền của con người năm 2001, và giải bộ di truyền của chính mình năm 2007

Cho tới gần đây, chúng ta chỉ có thể hiểu được sự tiến hóa bằng cách nhìn vào các chủng loại đang sống và khảo nghiệm những mẫu thức biến thạch. Trong 15 năm qua, khả năng giải mã và phân tích DNA đã cho chúng ta biết một cách rành rọt tiến trình của sự tiến hóa. Tuy nhiên, với cả những tiến bộ này, chúng ta vẫn còn bị cản trở. Giải hết ra được bộ di truyền cua một loài vật đã bị diệt chủng - gồm cả nhiều loài mà chúng ta rất muốn biết - phần lớn là một điều không thể làm được. Vậy mà điều này bây giờ bắt đầu thay đổi nhờ vào công việc nghiên cứu của những nhà sinh học như Stephan Schuster và Webb Miller.

Năm vừa rồi, Schuster, 47 tuổi, và Miller, 65 tuổi, cả hai đều ở Penn State University, đã thành công trong việc giải mã DNA của một con voi sống khoảng 20000 năm trước. Làm được việc đó, họ đã giúp khoa học khắc phục một chướng ngại vật mà người ta cho là không thể vượt qua được. Phần lớn những nhà sinh học và di truyền học cho rằng DNA trong nhân tế bào tiêu rã nhanh chóng sau khi chết và do đó không thể dùng để phân tích được.

Schuster và Miller đã tìm được cách rút ra một phần của DNA tan rã trong lõi tóc nguyên vẹn của con voi sau khi nhuộm tóc đó bằng thuốc tẩy để tiêu trừ đi tất cả những dấu tích DNA của vi khuẩn. Khám phá tuyệt diệu này có thể giúp các nhà khoa học mở ra ổ khóa của những bí mật chứa trong hàng ngàn phẫu nghiệm cổ xưa được giữ trong bảo tàng viện. Nó cũng còn cho người ta một phương pháp tân kì để giải mã những di tích lịch sử mà chỉ nhờ một vài sợi tóc.

Nhiều người cho rằng bước tiến kế tiếp trong công việc quan trọng của Schuster và Miller là làm sống lại những loài vật đã bị diệt chủng. Cái này thì đã có người làm rồi, nhưng chỉ với những con virus nhỏ xíu và làm chết người của năm 1918. Dùng những phương cách tối tân, con virus này đã được tái tạo từ RNA trích ra trong xác một người bị cúm chôn vùi trong tảng băng giá. Tuy nhiên, việc này xẩy ra được chỉ vì bộ di truyền của con virus cúm được giữ hoàn toàn nguyên vẹn và chính xác.

Với tình trạng bất toàn và thiếu xót của bộ di truyền của con voi, chuyện tái tạo một con voi tiền sử đi tản bộ trên trái đất một lần nữa là một chuyện không tưởng. Tuy nhiên, công trình tiên phong của Schuster và Miller đương nhiên là sẽ khuyến khích người ta tìm ra nhiều cái mới lạ hơn nữa trong công việc phân tích DNA, để nhìn vào quá khứ và có thể quyết đoán tương lai.


Nicholas Christakis, y sĩ và nhà xã hội học
Dan Ariely, giáo sư của trường Duke University và tác giả cuốn sách bán chạy nhất “Predictably Irrational”, viết

Trả lời cho câu hỏi làm sao để có một đời sống sung sướng, các nhà xã hội học thường có một câu trả lời thẳng thừng: Cứ sống chung với những người xấu xí hơn mình, nghèo hơn mình, lùn hơn mình, và với những người có chuyện lục đục trong gia đình hoặc có những đức con hư hỏng là xong ngay. Bạn sẽ so sánh mình với những người đó và rồi bạn sẽ thấy đời mình lên hương liền.

Nicholas Christakis, 47 tuổi, một y sĩ và nhà xã hội học ở đại học Harvard, không tin vào chuyện này. Dùng những dữ kiện từ một nghiên cứu gồm 5000 người trong khoảng 20 năm, ông cho là sự vui sướng có thể truyền từ người này sang người khác, y như bệnh cúm vậy. Khi những người sống gần chúng ta - bạn bè, họ hàng, hay những người chung quanh – sung sướng thì chúng ta cũng cảm thấy vui sướng theo. Thí dụ, khi một người sung sướng thì người bạn thân của anh ta, dầu có sống cách xa hằng cây số, cũng có một cơ may 15 phấn trăm sung sướng hơn. Điều ngạc nhiên hơn nữa là ảnh hưởng này có thể lan truyền trực tiếp tới người thứ ba: khi bạn của người bạn sung sướng thì ta cũng cảm được cái sướng đó, tuy rằng ta chưa hề quen biết với người đó.

Nó có nghĩa là khi ta sống chung với những người có hạnh phúc thì ta cũng sẽ cảm thấy hạnh phúc theo; nó cũng làm cho người gần ta thấy hạnh phúc; và nó cũng làm những người khác sống gần những người đó cảm thấy hạnh phúc hơn. Nhưng sự nối kết tập thể này không chỉ lan truyền những điều tốt lành trong đời sống mà thôi. Christais khám phá ra là tật hút thuốc và bệnh béo phì cũng có thể truyền nhiễm theo. Nếu ông đúng thì câu nói tôi có thể đoán biết con người của anh qua bạn bè mà anh quen biết quả nhiên có nhiều sự thật trong đó hơn là người ta thường nghĩ.


Paul Ekman, nhà tâm lí học
Bill Bolte Taylor, nhà thần kinh cơ thể học và là tác giả cuốn “My Stroke of Insight: A Brain Scientist’s Personal Journey”, viết

Những dữ kiện từ thế giới bên ngoài liên tục truyền vào giác quan chúng ta và sau đó được xử lí và tích hợp bởi óc não để tạo thành ý tưởng, lời nói và hành động. Kèm theo những hình thái về truyền đạt kể trên là những biểu lộ ngoài mặt và những phản ứng sinh lí mà chúng ta gọi là ngôn ngữ cử chỉ (body language).

Nhờ Paul Ekman và nghiên cứu của ông về vẻ mặt, sự xúc động và sự che dấu, chúng ta đã hiểu rõ hơn bằng cách nào sự diễn cảm và cử chỉ mà chúng ta biểu hiện bề ngoài lại phản ánh trực tiếp tới những gì xẩy ra trong dây mạch thần kinh ở sâu trong óc não.

Năm 1996, khi tôi bị xuất huyết não ở màng óc bên trái, tôi mang chứng mất ngôn ngữ (aphasic) - tôi không hiểu được lời nói của người ta. Nhưng nhờ vào bán cầu não bên phải, tôi có thể đọc được những vẻ mặt và body language của những người săn sóc và chữa trị tôi.

Ekman, 75 tuổi, đã biến khả năng đọc phản ứng biểu hiện trên mặt của người ta thành một ngành khoa học toàn hảo. Trong những cuốn sách của ông, ông viết cho mọi người thấy sự hiểu biết của ông về sự kiện làm cách nào chúng ta “nói chuyện” với nhau mà không cần tới ngôn ngữ.

Nghiên cứu của ông sẽ một sự đóng góp lớn lao cho cơ quan hành luật, chống khủng bố và điều khiển đám đông. Nó còn có khả năng để thay đổi cách chúng ta hành sử với những người bị bệnh aphasic. Nhưng có lẽ quan trọng hơn hết là, trong một xã hội mà đạo đức giả và gian manh là một việc hiển nhiên, Ekman dạy cho chúng ta biết làm thế nào để nhận ra những dấu hiệu mong manh của sự thật.


Nate Silver, nhà thống kê học
Bill James, tác giả cuốn “The Bill James Gold Mine 2009”, viết

Việc mà Nate Silver đang làm trong trang FiveThirtyEight.com – và đây là cách do tôi hiểu chứ không phải do chính anh mô tả - là tìm kiếm dữ liệu của cái mối trật tự trong vũ trụ bằng những bằng chứng, dữ kiện, và thống kê. Tất cả những chuyện xẩy ra trong chính trường đều bị bao phủ bởi dữ kiện. Cái mà Silver, 31 tuổi, rành, rất rành, là tìm kiếm và phối hợp những thông tin về chuyện bạn và tôi cho đó là những chuyện trời ơi đất hỡi nhưng thật ra nó có thể là những điều “coi vậy mà không phải vậy”.

Silver rất giỏi trong việc tránh né những truy nguyên mà chỉ có lợi cho anh - tức là chứng minh những điều anh tin tưởng. Chúng ta hãy lấy một thí dụ: chuyện hôn nhân đồng giới tính. Không phải Silver không có một chính kiến về vấn đề này; dĩ nhiên là anh có đấy. Nhưng cái hay là anh không bắt đầu phân tích sự kiện này dựa trên quan điểm của anh mà anh bắt đầu bằng những dữ liệu. Anh tìm ra hết những biểu quyết khen chê liên quan tới chuyện hôn nhân đồng giới mà anh có thể kiếm được - tất cả trưng cầu ý nguyện, tất cả khảo sát, tất cả những nhân tố liên hệ. Rồi sau đó anh truy ra khía cạnh nào có thể giải thích được tại sao người ta lại thay đổi thái độ với sự kiện này. Công chúng nghĩ gì về vấn đề này vào năm 2004? Và vào năm 2006? Còn bây giờ thì sao? Những con số từ bang Nebraska ra sao? Còn từ bang California? Con số từ bang Nebraska khác với bang California như thế nào?

Sau khi khảo sát tất cả những dữ kiện này, anh đi tới một kết luận: hôn nhân đồng giới sẽ thu thập thêm được sự ủng hộ của công chúng tương đương với sự tăng 2 điểm mỗi năm, và trong vòng hai hay ba năm tới, những người ủng hộ sẽ bắt đầu thắng thế trong những cuộc bầu cử, và nó sẽ xẩy ra ở bang California, Nebraska và Arkansas.

Anh có đúng không? Tôi không biết. Cái quan trọng không phải là anh đúng bao nhiêu trong lời tiên đoán đó, mà là, sau khi đọc lời phân tích của anh, bạn thật sự biết thêm được những điều mà bạn chưa biết tới trước đó. Trong một thế giới đầy dẫy những xảo ngôn, mị ngữ, thì cái loại phân tích này đang được mọi người ưa chuộng một cách nhiệt liệt – với nhiều tin tưởng.


Doug Melton, nhà sinh học/chuyên gia về tế bào gốc
Orrin Hatch, thượng nghị sĩ của đảng Cộng hòa Mĩ, viết

Chúng ta cần một lòng dũng cảm để khám phá một lãnh vực mới và hoàn thành một sứ mạng nào đó mà người khác không hề làm được. Douglas Melton, 55 tuổi, đã cho ta thấy lòng dũng cảm đó khi ông quan tâm tới những đứa con bị bệnh tiểu đường của ông và áp dụng nó vào một địa hạt khoa học vẫn còn nhiều bàn cãi - tế bào gốc - để giúp ích cho mọi người.

Thật là may mắn là Melton, một nhà sinh học phân tử của đại học Harvard, đã có kinh nghiệm nghiên cứu về những trường hợp phức tạp khiến con trai và con gái của ông mắc bệnh. Ông đã khảo sát về cấu trúc tế bào của nhái và chuột - cả hai vật đều là mô hình hoàn hảo cho những nghiên cứu về tế bào. Thiên tài của ông trong lãnh vực này đã khiến ông khám phá ra một dòng tế bào gốc mới để có thể một ngày nào đó thay thế những tế bào hư hại của tụy tạng - nguồn gốc của bệnh tiểu đường. Quan trọng hơn nữa là phương pháp của ông đã làm cho những cuộc tranh luận về tế bào gốc trở nên vô dụng vì tế bào mà ông dùng không khởi nguồn từ phôi thai, mà là từ tế bào da của người lớn.

Những lợi ích trong công việc của Melton không chỉ ở bệnh tiểu đường. Qua công cuộc nghiên cứu của ông, những tế bào của người lớn trong tương lai có thể được biến đổi thành nhiều mô khác để thay thế những tế bào hư hại của con người. Một ứng dụng đang được tiến hành, với những tế bào gốc mới để thay thế những tế bào óc tạo ra dopamine trong bệnh nhân với bệnh Parkinson’s. Không phải là quá đáng khi ta cho rằng bệnh Parkinson’s có thể chữa được trong một ngày gần đây – và chính cuộc nghiên cứu của Melton là bước tiên khởi cho công cuộc đó.

Có người cho rằng bàn tay của Thượng đế đã dẫn dắt Melton tới con đường tiên phong này. Nhưng dù với bất cứ lí do và hoàn cảnh nào, chính ý chí và tính kiên trì của Melton đã khiến cho ông ta tạo ra những thành quả lớn lao trong lãnh vực của ông – giúp ích không những cho chúng ta, mà cho cả thế hệ mai sau.
__________________
Các triết gia chân chính thuộc về một chủng tộc đặc biệt. Họ sống trong một thế giới khác.
Digg this Post!Add Post to del.icio.usBookmark Post in TechnoratiFurl this Post!
Trả Lời Với Trích Dẫn FaceBook
I thank nkd for this original paper:
livefully (12-14-2009)
  #6 (permalink)  
Old 12-13-2009
Kev's Avatar
Kev Kev is offline
Trusted member
Points: 2,759, Level: 32
Points: 2,759, Level: 32 Points: 2,759, Level: 32 Points: 2,759, Level: 32
Activity: 0%
Activity: 0% Activity: 0% Activity: 0%
 
Tham gia ngày: Apr 2009
Bài gởi: 496
Thanks: 71
Thanked 303 Times in 133 Posts
Downloads: 0
Uploads: 0
Default

Cái này là chị Vìu dịch luôn? Quả là thâm hậu.

Tụi MIT còn 1 awards cũng tương tự mấy cái này nhưng dành cho technology là Technology Review TR35, chỉ dành cho những ai dưới 35 tuổi.

"
Since 1999, the editors of Technology Review have honored the young innovators whose inventions and research we find most exciting; today that collection is the TR35, a list of technologists and scientists, all under the age of 35. Their work--spanning medicine, computing, communications, electronics, nanotechnology, and more--is changing our world. "

[Only registered and activated users can see links. ]

Hôm trước mình nói chuyện với 1 Prof ở UCSB, cũng từng được giải này [Only registered and activated users can see links. ]. Có lẽ đây là female Prof xinh đẹp và quyến rũ trước từ trước đến giờ mình gặp.
__________________
124 điểm.
To view links or images in signatures your post count must be 10 or greater. You currently have 0 posts.
Digg this Post!Add Post to del.icio.usBookmark Post in TechnoratiFurl this Post!
Trả Lời Với Trích Dẫn FaceBook
  #7 (permalink)  
Old 12-14-2009
KIEU PHONG's Avatar
Member
Points: 747, Level: 14
Points: 747, Level: 14 Points: 747, Level: 14 Points: 747, Level: 14
Activity: 0%
Activity: 0% Activity: 0% Activity: 0%
 
Tham gia ngày: Oct 2009
Bài gởi: 38
Thanks: 1
Thanked 12 Times in 6 Posts
Downloads: 1
Uploads: 0
Default

Trích:
View Post
Còn đây là danh sách:

Nhân Vật có Ảnh Hưởng Nhất Trên Thế Giới của Tạp Chí Time

Daniel Nocera, nhà hóa học
Fred Krupp, tác giả cuốn “Earth: The Sequel – The Race to Reinvent Energy and Stop Global Warming”, viết

Khi nào tôi thấy mệt mỏi vì những khó khăn mà ta đang gặp trong công cuộc tìm kiếm nguồn năng lượng mới và phương cách để ngăn chặn sự hâm nóng toàn cầu thì tôi cảm thấy khoan khoái hơn sau khi nói chuyện với nhà hóa học Daniel Nocera của trường đại học MIT. Nocera, 51 tuổi, đang tìm cách thoát ra khỏi thảm họa của trái đất này. Ông ta đang nghiên cứu một phương pháp mới để tạo nhiên liệu hydrogen từ nước, tức là phân tách nước bằng ánh sáng mặt trời, bắt chước theo sự quang tổng hợp của cây cỏ. Khám phá của ông có thể giải quyết nhu cầu năng lượng toàn cầu trong khoảng giữa thế kỉ này, bằng cách phân tách một phần ba lượng nước trong hồ bơi của trường MIT. Chúng ta chỉ cần có bao nhiêu đó là đủ để cung cấp năng lượng cho cả thế giới.

Từ lâu, khoa học gia đã biết cách phân li nước thành hydrogen và oxygen, nhưng không như ở cây cỏ, họ cần một nhiệt độ cao và những dung dịch đậm đặc, hoặc những chất xúc tác khan hiếm hay mắc mỏ như platinum. Chất xúc tác của Nocera là chất đầu tiên tạo bởi những chất tiện và rẻ (cobalt và phosphate), và nó có công hiệu trong những điều kiện dễ dàng: một li nuớc ở nhiệt độ bình thường.

Sự kiện quan trọng đưa đến cho Nocera cái ý tưởng thần kì này xẩy ra vào năm 2004, khi các nhà sinh học tìm ra cách thức cây cối dùng để phân tách nước. Họ biết rằng cái cơ chế này từ từ tiêu rã, khiến cho lá cỏ lúc nào cũng phải tái tạo nó từ ban đầu. Nocera nhận ra là các khoa học gia đã tốn hằng chục năm để tìm cách giữ cho chất xúc tác đó không tiêu rã là một điều sai lầm. Theo ông, họ nên để cho chất xúc tác tan rã, rồi dùng một số năng lượng mặt trời nho nhỏ để tạo nó trở lại, và cứ như vậy, tan rã, tái tạo, tan rã, tái tạo…

Để cho nó tự nhiên tan rã và rồi tạo nên một cái gì mới, mạnh mẽ hơn đã xẩy ra khắp nơi trong thiên nhiên. Đó cũng chính là một mô hình kì diệu để chúng ta dựa vào đó để thay đổi một kế hoạch năng lượng cũ rích bằng một cái mới mẻ và sạch sẽ hơn.
Em biết ông này nổi lên từ năm ngoái khi publish 1 revolutionary paper nói chung là vô cùng impressive.

Ý tưởng thì không mới lạ: tách O2 và H2 từ H20, mô phỏng quá trình photosynthesis, sau đó tạo fuel cell bằng phản ứng ngược lại H2 + O2 -- > water + energy.
Vấn đề tồn tại lâu nay là tốn khá nhiều energy, pressure, temperature để tách H20, để làm giảm những obstacles này người ta dùng electrocatalyst. Tuy nhiên một vấn đề nữa lại phát sinh là các catalyst đó có giá thành rất cao, và đều là kim loại hiếm, ví dụ như Ir,Rh,Pt -- > điều này làm giảm đi độ practical khiến khó có thể ứng dụng massively trong công nghiệp.

Revolutionary key point của paper này là ông ý tạo được efficient electrocatalyst, làm từ Cobalt ions, để tách oxy ra khỏi H2O, điều đặc biệt nhất của electrocatalyst này có thể operated in room temperature và asmosphere pressure, và quan trọng hơn nữa là giá thành của cobalt rất rẻ, đồng thời là abundant resource.

Paper 3 trang viết khá dễ hiểu, background tối thiểu cần biết là coordinate chemistry và electrochemistry . Mời các bạn tìm đọc.
[Only registered and activated users can see links. ]

thay đổi nội dung bởi: KIEU PHONG, 12-14-2009 lúc 02:24 AM
Digg this Post!Add Post to del.icio.usBookmark Post in TechnoratiFurl this Post!
Trả Lời Với Trích Dẫn FaceBook
We thank KIEU PHONG for this original paper:
Kev (12-14-2009), mdlhvn (12-14-2009)
  #8 (permalink)  
Old 12-14-2009
Dodo's Avatar
Freshman
Points: 863, Level: 15
Points: 863, Level: 15 Points: 863, Level: 15 Points: 863, Level: 15
Activity: 0%
Activity: 0% Activity: 0% Activity: 0%
 
Tham gia ngày: Aug 2009
Bài gởi: 18
Thanks: 2
Thanked 6 Times in 6 Posts
Downloads: 0
Uploads: 0
Default

Em có nghe plenary talk của Dr. Nocera ở ACS meeting gần đây, cũng rất là impressive. Nhưng nếu chỉ nói cobalt không thì hơi simplify nó quá. Cái quan trọng là ổng xài ít nước.

Còn về solar enegy thì cái project này là lớn nhất trong những năm gần đây.
[Only registered and activated users can see links. ]

Sắp tới tháng 1 sẽ có meeting, hy vọng là sẽ có thêm nhiều ground-breaking results.
Digg this Post!Add Post to del.icio.usBookmark Post in TechnoratiFurl this Post!
Trả Lời Với Trích Dẫn FaceBook
  #9 (permalink)  
Old 12-14-2009
Kev's Avatar
Kev Kev is offline
Trusted member
Points: 2,759, Level: 32
Points: 2,759, Level: 32 Points: 2,759, Level: 32 Points: 2,759, Level: 32
Activity: 0%
Activity: 0% Activity: 0% Activity: 0%
 
Tham gia ngày: Apr 2009
Bài gởi: 496
Thanks: 71
Thanked 303 Times in 133 Posts
Downloads: 0
Uploads: 0
Default

Cái project này quả là kinh khiếp. Tụ tập faculties từ khắp nơi trên thế giới. Đúng là hiện giờ làm bất cứ thứ gì liên quan đến energy là có vẻ rất nóng sốt. Trong dịp commencement ở Caltech đợt vừa rồi Steven Chu đến nói chuyện cũng nói về energy không.
__________________
124 điểm.
To view links or images in signatures your post count must be 10 or greater. You currently have 0 posts.
Digg this Post!Add Post to del.icio.usBookmark Post in TechnoratiFurl this Post!
Trả Lời Với Trích Dẫn FaceBook
  #10 (permalink)  
Old 12-14-2009
nkd's Avatar
nkd nkd is offline
A dreamer
Points: 1,196, Level: 18
Points: 1,196, Level: 18 Points: 1,196, Level: 18 Points: 1,196, Level: 18
Activity: 0%
Activity: 0% Activity: 0% Activity: 0%
 
Tham gia ngày: Nov 2009
Đến từ: Mặt trăng
Bài gởi: 81
Thanks: 20
Thanked 25 Times in 15 Posts
Downloads: 0
Uploads: 0
Default

Chị đã ghi rõ source là bọn x-cafe dịch. Chị làm gì có thời gian và rỗi việc mà dịch.
__________________
Các triết gia chân chính thuộc về một chủng tộc đặc biệt. Họ sống trong một thế giới khác.
Digg this Post!Add Post to del.icio.usBookmark Post in TechnoratiFurl this Post!
Trả Lời Với Trích Dẫn FaceBook
Trả lời

Bookmarks

Tags
chinhphu, nghiencuu, nhakhoahoc, phd, research, tamguong, tenure, tiensi

Latex Maths & Physics Editor ...


Ðang đọc: 1 (0 thành viên và 1 khách)
 
Ðiều Chỉnh Kiếm Trong Bài
Kiếm Trong Bài:

Kiếm Chi Tiết

Posting Rules
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt
Trackbacks are Mở
Pingbacks are Mở
Refbacks are Mở


Chủ đề giống nhau
Ðề tài Người Gởi Chuyên mục Trả lời Bài viết sau cùng
Blog GS Nguyenvantuan Khoa học Việt Nam qua công bố quốc tế 2005-2009 PhDvn Reporter RSS center 0 05-02-2010 09:10 PM
Đầu tư cho phát triển khoa học và giáo dục Jenny PhDvn-Express 28 03-13-2010 10:36 PM
USGuide - you can do it 2009 lehang267 Du học Hoa Kỳ, Canada 25 12-30-2009 08:16 PM
Chúc mừng ngày phụ nữ Việt Nam 20.10.2009 From Hamilton Everyday Life 8 10-21-2009 07:34 AM


 
PhDvn.org
   
All times are GMT -5. The time now is 09:04 AM.  
 
Style by TheProphet  
 

Search Engine Optimization by vBSEO 3.3.0