Nghiên cứu KHXH thường đòi hỏi phải hiểu biết rộng, càng nhiều lĩnh vực càng tốt. Mình độ này rất bận, nhưng thỉnh thoảng sẽ cố gắng bắt chước Thi giới thiệu một số bài báo, chủ đề mình thấy thú vị hoặc đang hot. Hi vọng các bạn khác sẽ cùng tham gia. Bài đầu tiên mình muốn nói về:
Economics of Happiness.
Hiện nay, nghiên cứu về Happiness, hoặc thuật ngữ khác hay sử dụng là Subjective Well Being là một chủ đề nóng, thu hút sự chú ý của nhiều ngành xã hội. Ngành kinh tế trước đây không quan tâm đến Happiness bởi cho rằng khái niệm đấy quá trừu tượng. Có quá nhiều yếu tố tác động, đo đạc rất khó khăn.
Giới kinh tế thường chỉ quan tâm đến những gì thuộc về objective, nghĩa là có thể quan sát, đo đạc được, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người. Ví dụ, lương tháng, tổng thu nhập hàng năm là một con số objective. Trong khi đấy Happiness, lại thuộc về subjective, là cảm nhận cá nhân, đo đạc sẽ mang nhiều tính chủ quan. Ví dụ phỏng vấn một anh vừa thất tình: "Cuộc đời anh có hạnh phúc không?", thì khó mà anh ta trả lời happy hoặc very happy. Trong khi cuộc đời anh ta so với những người khác chẳng đến nỗi nào, và ở một thời điểm khác anh ta lại có thể có câu trả lời tích cực. Mặc dù các nhà nghiên cứu tâm lý cố gắng thuyết phục bằng phương pháp Day Reconstruction, đại thể là phỏng vấn nhiều lần trong 1 ngày rồi lấy giá trị trung bình của các câu trả lời, tuy nhiên vẫn còn nhiều vấn đề.
Các bạn có thể xem thêm bài này để biết thêm về các vấn đề nảy sinh đối với đo lường subjective nói chung, chứ không chỉ về happiness.
Ví dụ, chỉ cần thay đổi động từ trong câu hỏi thì cho ra các kết quả thống kê khác nhau, chẳng hạn như với câu hỏi "Có nên cấm (FORBID) phá thai không?", có 25% số người trả lời Yes. Nhưng nếu đặt câu hỏi là "có nên không cho phép (NOT ALLOW) phá thai không?" thì sẽ nhận được 40% câu trả lời là Yes.
[Only registered and activated users can see links. ]
Một lý do khác khiến giới kinh tế không để ý đến happiness, là vì trước đây họ đinh ninh rằng Happiness và Income (thu nhập) có quan hệ mật thiết với nhau. Càng nhiều tiền thì càng hạnh phúc, cho nên chỉ cần đo Income là có thể so sánh được rồi. Nhưng năm 1974, sau khi tiến hành đo đạc nhiều quốc gia trên thế giới, Esterlin, một giáo sư kinh tế ở đại học south cali, nhận thấy rằng Tiền không mang lại hạnh phúc! Trong cùng một quốc gia, càng giầu càng hạnh phúc, nhưng điều ấy không đúng nếu so sánh giữa các quốc gia với nhau. Không nhất thiết những người nghèo ở VN kém hạnh phúc hơn những người trung lưu ở Mỹ.
Điều này nghe có vẻ tầm thường, nhưng thời điểm năm 1974, đấy là một phát hiện kinh ngạc. Bắt đầu từ đấy, Economics of happiness ra đời cùng với một số tờ báo chuyên ngành chẳng hạn như Journal of happiness.
Đến bây giờ, nhu cầu đo lường hạnh phúc ngày càng trở nên cấp thiết, và rất nhiều người đòi hỏi thay thế khái niệm tổng sản phẩm quốc dân GNP, (hoặc ở Mỹ là NIA - National income account) bằng khái niệm National Account of Time Use and Well being. (nôm na là Gross National of Happiness - GNH) Đây là tổ hợp của hai khái niệm: (i) National Time Account (ii) National Account of Well Being.
(i) Khái niệm NTA liên quan đến U-index, có nghĩa là để đo happiness, nguời ta đo ngược, tính tổng tỉ lệ thời gian không dễ chịu trong cuộc đời của mỗi người. (Unpleasant-index).
(ii) Khái niệm NAWB đo các giá trị kinh tế truyền thống như thu nhập và tiêu thụ quốc dân.
Thiết kế các phỏng vấn đo lường happiness thuộc về khoa tâm lý, nhưng data thu được thì có thể sử dụng trong nhiều ngành xã hội nói chung. Hiện nay, các cơ sở dữ liệu lớn của nhiều nước trên thế giới như NGSS, IPUMS đều có các câu hỏi về happiness và hiện giờ đang có một dự án rất dài hơi đo lường NTA của tất cả các quốc gia, và để trở thành chỉ số chính thức để đánh giá năng lực của tất cả các quốc gia trên thế giới.
Tuy nhiên, điều này lại có thể sẽ là một tin không vui cho những ai quan tâm đến các thể chế chính trị trên thế giới. Bởi lẽ, một khi GNH được thay thế cho GNP trong các tài liệu chính thức thì Việt nam có thể thuộc vào nhóm quốc gia tiên tiến.
Trong khi trước nay thế giới ra sức chỉ trích VN kém phát triển vì VN nghèo. Nghèo là do quản lý yếu kém. Mà quản lý yếu kém thì lại là do...
__________________ Thực ra thì tôi cũng không chắc, thế giới xung quanh tôi có tồn tại thật hay không.
thay đổi nội dung bởi: Jenny, 02-14-2010 lúc 03:04 PM
Chị Vìu, em chả hiểu nổi. Đến định nghĩa dc hạnh phúc là gì còn ko rõ (ít nhất là với em) thì làm sao nghiên cứu dc?? Chị khai sáng cho em cái.
Cái kết quả đo đạc năm 74 gì gì đó chỉ đúng khi dân VN ko hề biết dân Mỹ đang làm gì, ăn gì, mặc gì thôi, chứ nếu cho sống cạnh dân Mỹ thì chắc gì. Với lại chả cứ gì quốc gia, thường thì con người cũng chỉ so sánh với nhau trong phạm vi hẹp thôi. Người có điều kiện hơn (tiền bạc hơn, địa vị hơn, nhà to hơn, vợ đẹp hơn, đảm đang hơn, con ngoan hơn, giỏi hơn... ) nhiều người khác trong 1 làng thì hạnh phúc hơn nhiều so với người có điều kiện gấp 10 lần nhưng sống ở thành phố. Hoặc vì anh ta chả biết gì về dân thành phố, hoặc là biết nhưng hàng ngày chỉ gặp và tiếp xúc với người trong làng chứ có va đụng gì với bọn ở thành phố đâu. Ngược lại bọn ở thành phố cũng thế, đâu có biết dc dân ở cái làng nào, chỉ toàn thấy bọn ăn trắng mặc trơn có điều kiện gấp 10 lần mình ở thành phố thôi.
Cho nên cái chi phối ở đây là cảm giác so sánh với xung quanh mà mình biết rõ hoặc (phải) tiếp xúc thôi. Giờ có in tờ nét rồi, kết nối rộng khắp rồi, dễ dàng biết thiên hạ thế nào hơn hẳn thời xưa rồi, em chắc chắn là cảm giác hạnh phúc sẽ giảm đi rất nhiều. Hà hà.
Các khái niệm trừu tượng của KHXH thì được 1, 2 chú nào đấy đề xuất rồi được 1 tổ chức to to chẳng hạn như UNESCO, UNDP, WORLDBANK, UNICEF, tổ chức các chuyên gia trong ngành họp nhóm rồi quyết định. Cũng có thể theo thời gian người ta sẽ modify định nghĩa và cách đo, chứ không nhất thiết là 1 khái niệm cố định vĩnh viễn. Đặc biệt là những chỉ số liên quan đến nhiều quốc gia trên thế giới thì chắc chắn phải được các tổ chức lớn thông qua thì mới có giá trị. Hiện giờ Kruger ở khoa kinh tế và Kahnneman ở khoa tâm lý Princeton là hai ông đang chủ trì đề án xây dựng NTA &WB. Các bác tâm lý thì phấn chấn lắm, bởi vì có nhiều việc để làm và đề án này sẽ nâng tầm quan trọng của ngành tâm lý.
Thực ra trước nay người ta vẫn đo happiness rồi và đo hàng năm. Điều tra dân số của Mỹ năm nào cũng có chỉ số happiness. Có điều là chưa được chuẩn hoá, chứ không phải chỉ đo năm 1974.
Môi trường, cộng đồng chỉ là một chuyện. Em sống ở nước ngoài giữa 1 cộng đồng tây tầu, chỉ có 1 nhúm người Việt, em vẫn có thể cảm thấy hạnh phúc bởi vì em so sánh với bọn Việt nam ở trong nước chứ không phải so với bọn Tây, Tầu ở xung quanh.
Khái niệm chủng tộc quan trọng ghê gớm lắm. Chả thế mà bao nhiêu chú Tầu sẵn sàng ngồi tù để làm gián đệp kinh tế, gián điệp công nghệ. Có chú bỏ cả Princeton với project 10 triệu $ để về Tàu đấy thây.
__________________ Thực ra thì tôi cũng không chắc, thế giới xung quanh tôi có tồn tại thật hay không.
thay đổi nội dung bởi: Jenny, 02-23-2010 lúc 11:45 AM
Công nhận là đôi khi người ta cũng chỉ so sánh với hoàn cảnh xuất thân. Với lại điều đó cũng là cái đem lại công bằng cho việc hưởng-thụ-hạnh-phúc, chứ ko thì nhiều bác PhD ở đây chắc stress suốt ngày mất vì cảm giác thua kém bọn Tây.
Nhưng đối với bọn Tàu thì còn nhiều yếu tố nữa, chắc phải đưa thêm tham số vào phép đo hạnh phúc. Cái gánh nặng giá-trị-quá-khứ nó lớn đến nỗi có khi ko phải là người Tàu thì đếck thể nào hiểu nổi tại sao lại sinh ra cái thứ giá trị cực đoan dân tộc đó. Cảm tưởng nhiều khi bọn nó làm việc đếck phải vì mình, đếck phải vì đồng loại mà vì 1 cái gì gì cao xa tận đẩu tận đâu ấy. Cũng như ko phải là người theo đạo Hồi thì đếck thể nào hiểu nổi tại sao nó lại có thể giết chính con mình vì mấy cái giá trị đạo đức của nó hay nó có thể thánh chiến dc kể cả đã học đến PhD.
Kể ra mấy thứ định kiến xã hội, mấy thứ giá trị nặng nề từ quá khứ nó đè nén con người ghê phết. Dân tộc, tôn giáo,... hết thảy đều nặng nề. Con người hoàn toàn có thể tìm đến những niềm tin thiêng liêng khác, ví dụ niềm tin vào khoa học chẳng hạn.
thay đổi nội dung bởi: Pisces, 02-19-2010 lúc 03:00 PM