Trang chủHomepage forum Main Diễn đàn AlbumAlbumn ảnh LibraryThư phòng LibraryPhDvn in Media LinkWeb Links BlogTrang cá nhân Member ListDanh sách thành viên New posts Bài viết mới Private MailThư của bạn Control PanelBảng điều khiển SearchGoogle search TiviTivi FAQLuật Ban chã FAQDownload/upload Center




 
Loading...
  Lost your password? Lost your Username? Make a new account!  
Vietscholar forum  
 

Connect with Facebook
Go Back   Vietscholar forum > Human Life > Home Page > Tâm Điểm-Focus

Notices

Tâm Điểm-Focus Các bài viết trong dây sẽ tự động được chuyển ra trang chủ.

PhDvn trên Facebook
Mời các bạn tham gia PhDvn /> </a><a onclick= Facebook group PhDvn và những người bạn.
Thông báo về cách thức tham gia online conference về hội thảo du học châu Âu

Trả lời
 
LinkBack Ðiều Chỉnh Kiếm Trong Bài
  #1 (permalink)  
Old 09-18-2010
Mê Nấm's Avatar
Senior Member
Points: 2,272, Level: 28
Points: 2,272, Level: 28 Points: 2,272, Level: 28 Points: 2,272, Level: 28
Activity: 0%
Activity: 0% Activity: 0% Activity: 0%
 
Tham gia ngày: Jan 2010
Bài gởi: 348
Thanks: 37
Thanked 154 Times in 91 Posts
Downloads: 0
Uploads: 0
Default Ðề: Bạn, trí thông minh và lòng kiên trì

Làm thế nào để không nói với con cái của bạn?
Phản tác dụng của lời khuyên.
Tác giả (Po Bronson)

[Only registered and activated users can see links. ]


Chúng ta nghĩ gì về cậu bé Thomas? (xem ảnh trên)

Thomas là một học sinh lớp năm của một ngôi trường có đầu vào rất cao, trường PS334 Anderson. Gần đây Thomas đã đi cắt mái tóc thưa, dài vàng hoe của mình để trông giống điệp viên James Bond (cậu ta mang ảnh của diễn viên Daniel Craig cho ông thợ cắt tóc xem). Không như Bond, cậu ta thích mặc đồng phục quần túi hộp nam và áo phông có in ảnh của thần tượng của cậu: Frank Zappa. Thomas thường chơi đùa với năm người bạn khác cùng học ở trường Anderson.

Chúng đều là “những đứa trẻ thông minh”. Thomas thuộc một trong số đó và cậu ta cảm thấy thoái mái với nhóm bạn của mình.

Từ khi bắt đầu biết đi Thomas luôn được người lớn khen là thông minh. Không chỉ có bố mẹ mà bất cứ người nào tiếp xúc với đứa trẻ “khôn trước tuổi” này. Khi bố mẹ cậu nộp đơn xin vào học ở nhà trẻ Anderson, trí tuệ của cậu đã được khẳng định với bằng chứng rõ ràng. Trường này chỉ dành cho tốp 1% trong số những đứa trẻ nộp đơn vào. Quá trình tuyển chọn đòi hỏi kiểm tra IQ.Thomas không chỉ nằm trong tốp 1% mà cậu còn đứng trong tốp 1% của 1% này.

Như khi Thomas bắt đầu học lên, ý thức được sư thông minh của mình không phải lúc nào cũng đồng nghĩa với việc học hành một cách nhẹ nhàng. Trên thực tế cha của Thomas lại thấy điều ngược lại. “Thomas không muốn làm cái gì mà nó cảm thấy không giỏi”, cha Thomas nói. “Trừ những cái nó làm rất dễ dàng, những cái nào hơi đòi hỏi cố gắng một chút là nó bỏ cuộc ngay lập tức, và kết luận ‘Mình chẳng có khiếu về cái này’. Dựa trên cách nhìn nhận tức thời này, thế giới của Thomas được phân thành hai nhóm, những thứ mà nó có năng khiếu và những thứ nó không có.

Ví dụ ở những năm đầu cấp I, Thomas đánh vần không thạo lắm, vì thế cậu ta cứ lẩn tránh việc đánh vần thành tiếng. Ngay lần đầu khi học về tỉ số, Thomas cũng lẩn tránh ngay lập tức. Chướng ngại lớn nhất xảy ra ở năm lớp 3. Cậu phải học môn Tập viết chữ đẹp. Nhưng cả mấy tuần cậu chẳng chịu cầm bút luyện chữ. Đến khi GV yêu cầu làm bài tập về môn này, thay vì dành thời gian cố gắng luyện viết bù lại cho thời gian đã mất thì cậu ta chối thẳng việc làm bài tập. Cha của Thomas đã cố gắng giải thích cho cậu “Này, chỉ vì con thông minh thì không có nghĩa là con không phải cố gắng.” (Sau cùng thì cậu ta cũng học được kỹ thuật viết chữ đẹp, nhưng cha cậu phải mất rất nhiều thời gian dỗ dành.)

Tại sao đứa trẻ này, một đứa trẻ đứng đầu về trí tuệ, lại thiếu sự tự tin về khả năng đối phó với những vấn đề bình thường trong học tập?

Thomas không phải là đứa trẻ duy nhất. Trong vài thập kỷ người ta để ý rằng một tỉ lệ lớn tất cả những đứa trẻ có tài năng (thuộc nhóm có điểm tài năng trong top 10%) đều đánh giá rất thấp khả năng của chúng. Những đứa trẻ nghĩ rằng mình thiếu năng lực thường chấp nhận mức độ thành công thấp hơn và kỳ vọng ít hơn vào bản thân. Chúng đánh giá không đúng mức tầm quan trọng của nỗ lực, và chúng cho rằng mình sẽ cần nhiều sự giúp đỡ từ phía cha mẹ.

Khi các bậc phụ huynh khen ngợi trí thông minh của con cái họ, họ tưởng rằng đây là cách giải quyết vấn đề. Theo một điều tra do Đại học Columbia tiến hành, 85% các bậc phụ huynh ở Mỹ tin rằng phải nói cho con cái họ biết là chúng thông minh. Chung quanh khu vực New York, theo điều tra của tôi (đương nhiên là không đảm bảo tính khoa học) thì con số này phải là 100%. Ai cũng đều làm điều đó, theo thói quen. Việc cha mẹ khen con cái thường xuyên là có ý đồ làm nó trở thành một cái bùa để đảm bảo con cái họ không đánh giá thấp khả năng của chúng.
Nhưng càng có nhiều nghiên cứu, và một nghiên cứu mới về thành trì kiên cố của hệ thống giáo dục công ở New York đã chỉ ra một cách mạnh mẽ rằng có thể điều ngược lại mới đúng. Gắn các mác “thông minh” cho những đứa trẻ sẽ không ngăn được chúng không thể hiện đúng khả năng của mình. Thực tế nó còn có thể là nguyên nhân gây ra điều đó.

Trong mười năm qua nhà Tâm lý học Carol Dweck và nhóm của bà ở ĐH Columbia (hiện nay bà đã chuyển sang ĐH Stanford) đã nghiên cứu về hiệu quả của việc khen ngợi học sinh ở một số trường ở New York. Nghiên cứu có ảnh hưởng của bà – một loạt các thí nghiệm thực hiện trên 400 học sinh lớp năm – đã cho ta thấy bức tranh này rõ nhất.
Dweck phái bốn trợ lý nghiên cứu đến các lớp học có học sinh lớp năm ở New York. Họ sẽ chọn ra một học sinh và cho làm bài kiểm tra IQ trên giấy, bao gồm một loạt các câu đố. Các câu đố này đủ dễ để tất cả những đứa trẻ được chọn đều làm khá tốt. Sau khi đứa trẻ hoàn thành bài kiểm tra, những nghiên cứu viên sẽ báo điểm cho từng học sinh, đồng thời sẽ đưa ra một lời khen duy nhất cho chúng. Số trẻ được chọn được phân ngẫu nhiên thành các nhóm. Một số được khen vì sự thông minh của chúng. Họ sẽ khen “Cháu giỏi về cái này thật”. Một số khác được khen vì sự nỗ lực của chúng. “Cháu đã rất có cố gắng.”

Tại sao chỉ một lời khen duy nhất? “Chúng tôi muốn xem bọn trẻ nhạy cảm với điều này đến đâu. Chúng tôi có dự cảm là chỉ một lời khen cũng đủ để thấy hiệu quả.” Dweck giải thích.

Sau đó bọn trẻ được cho làm bài kiểm tra vòng hai, và chúng được quyền chọn loại bài kiểm tra nào mà chúng thích. Một là bài kiểm tra khó hơn bài đầu, nhưng các nghiên cứu viên sẽ bảo với bọn trẻ là chúng sẽ học hỏi được nhiều điều khi làm các câu hỏi trong bài kiểm tra này. Sự lựa chọn còn lại là bài kiểm tra dễ, giống như bài đầu tiên vậy. Trong số những đứa trẻ được khen vì đã cố gắng, 90% chọn loại bài kiểm tra khó hơn. Trong số những đứa trẻ được khen vì trí thông minh, phần lớn chọn bài kiểm tra dễ. Như vậy là những đứa trẻ “thông minh” đã tìm cách trốn tránh.

Tại sao điều này xảy ra? “Khi ta khen con cái mình thông minh ta ngầm nói với chúng rằng điều quan trọng nhất là: hãy tỏ ra thông minh, đừng dại mà mắc sai lầm.” Dweck viết trong tóm tắt nghiên cứu của bà. Và đó chính là những gì các học sinh lớp 5 này đã làm: Chúng chọn được coi là thông minh và tránh nguy cơ bị mất mặt.

Ở vòng kiểm tra tiếp theo, bọn trẻ lớp 5 này không có quyền chọn bài kiểm tra nữa. Bài kiểm tra này rất khó, được dành cho các học sinh trình độ lớp 7 lớp 8. Đúng như dự kiến, tất cả đều không làm tốt. Tuy nhiên phản ứng của hai nhóm học sinh, được phân ngẫu nhiên khi bắt đầu thí nghiệm, không giống nhau. Những đứa trẻ được khen vì sự cố gắng ở bài kiểm tra đầu cho rằng chúng chưa tập trung đúng mức vào bài kiểm tra này. “Chúng rất tập trung và chịu khó tìm các cách để giải ra bài toán đã cho. Nhiều đứa còn nhận xét một cách vô tư rằng ‘em thích loại bài kiểm tra này’, Dweck nhớ lại. Bọn trẻ được khen thông minh thì không như vậy. Chúng cho rằng sự thất bại của mình là bằng chứng cho thấy chúng chẳng thông minh chút nào. “Nếu bạn có ở đó, bạn sẽ thấy sự căng thẳng. Bọn trẻ vã mồ hôi ra và trông rất thảm.”

Sau khi đã tạo ra một sự thất bại có chủ định, các nghiên cứu viên của Dweck cho tất cả học sinh ở hai nhóm làm một bài kiểm tra cuối cùng. Bài kiểm tra này được soạn với mức độ dễ như bài kiểm tra đầu tiên. Những học sinh được khen vì đã có cố gắng đạt điểm cao hơn nhiều so với điểm số ở bài kiểm tra đầu tiên của chúng – khoảng 30%. Những đứa trẻ được khen là thông minh làm bài tệ hơn so với bài kiểm tra đầu tiên và đạt điểm thấp hơn trước khoảng 20%.

Trước đó Dweck đã ngờ rằng khen ngợi có thể gây phản tác dụng. Nhưng bà còn ngạc nhiên hơn về mức độ phản tác dụng của chúng. “Khi nhấn mạnh đến sự cố gắng là ta đã trao cho đứa trẻ một cái gì đó chúng có thể kiểm soát. Chúng sẽ nhận ra rằng mình có thể kiểm soát được mức độ thành công của bản thân. Nhấn mạnh vào trí thông minh bẩm sinh sẽ tước đi của đứa trẻ sự kiểm soát này, và nó cũng lấy mất công thức phản ứng với một thất bại.”

Trong những cuộc phỏng vấn tiếp theo trong khuôn khổ đề tài, Dweck phát hiện ra rằng những đứa trẻ nghĩ rằng thông minh là chìa khóa để thành công sẽ coi thường tầm quan trọng của sự nỗ lực. Tôi giỏi, tôi không cần cố gắng. Đó là suy nghĩ của những đứa trẻ này. Nỗ lực trở thành cái gì đó bị xem thường – nó là một bằng chứng hiển hiện rằng bạn không thể làm điều gì đó dựa vào tài năng của mình.

Lặp lại các thí nghiệm của mình Dweck phát hiện ra rằng hiệu ứng này của việc khen ngợi áp dụng cho với mọi tầng lớp kinh tế xã hội. Nó áp dụng cả cho nam sinh lẫn nữ sinh – đặc biệt là những học sinh nữ thông minh nhất (chúng suy sụp nhất sau khi thất bại). Thậm chí trẻ em mẫu giáo cũng không bị miễn nhiễm với phản tác dụng của sự khen ngợi.

Jill Abraham là một bà mẹ ba con ở Scardale. Quan điểm của bà khá điển hình cho những người được tôi hỏi về vấn đề này. Khi tôi kể cho bà ấy nghe về nghiên cứu của Dweck, bà hoàn toàn không quan tâm đến những bài kiểm tra nhanh đó trừ phi có những kết quả dài hạn tiếp theo. Abraham là một trong số 85% những người tin rằng khen con mình thông minh là một điều rất quan trọng. Bọn trẻ của bà rất thành công, vì thế bà đã chứng minh được việc khen ngợi có tác dụng thực tế. “Tôi chả để ý các chuyên gia nói gì. Tôi có bằng chứng sống.” Jill phủ định một cách chắc nịch.

Thậm chí đối với những người chấp nhận kết quả nghiên cứu này, họ gặp khó khăn trong việc vận dụng nó vào thực tiễn. Sue Needleman là một bà mẹ hai con, đồng thời là một giáo viên tiểu học có 11 năm kinh nghiệm. Năm ngoái bà dạy lớp 4 ở Trường Ridge Ranch ở Paramus, New Jersey. Bà chưa bao giờ nghe đến cái tên Carol Dweck, nhưng tinh thần của nghiên cứu của Dweck đã lan tỏa xuống trường của bà. Needleman đã được học để nói câu “Cô thích sự nỗ lực của em.” Bà cố gắng giữ cho lời khuyên của mình cụ thể thay vì chung chung, để đứa trẻ biết nó đã làm gì mà được khen (và vì thế phải làm gì để tiếp tục được khen). Thỉnh thoảng bà sẽ nói với một học sinh, “Em giỏi toán lắm”. Nhưng bà sẽ không bao giờ nói một đứa trẻ dốt toán.

Nhưng đó là ở trường, với tư cách là một giáo viên. Ở nhà việc thay đổi thói quen thực sự rất khó. Cô con gái 8 tuổi và cậu con trai 5 tuổi của bà thực sự thông minh, và đôi khi bà buột miệng “ Con làm được rồi. Con tuyệt lắm. Con thông minh lắm.” Khi tôi thúc dục bà về điều này, Needleman thổ lộ rằng bà cảm thấy mấy kết quả nghiên cứu khoa học thường không được tự nhiên lắm. “Khi mình đọc mấy câu tập luyện khen ngợi cho GV, ngay lập tức mình nghĩ : Ôi trời, toàn thứ cũ rích.”

Ở trường Khoa học tự nhiên cấp II ở Đông Harlem, sự băn khoăn này không tồn tại bởi các GV đã chứng kiến lý thuyết của Dweck áp dụng đúng cho học sinh của mình như thế nào. Tuần rồi, Dweck và học trò cưng của bà, Lisa Blackwell đã xuất bản một bài báo cáo trên tạp chí khoa học có tên là Phát triển tâm sinh lý trẻ em, về tác dụng của một nghiên cứu kéo dài nguyên một học kỳ nhằm cải thiện điểm số của học sinh ở môn Toán.

Trường khoa học tự nhiên cấp II này là một trường định hướng về khoa học sự sống với nhiều học sinh giỏi, ngoại trừ 700 học sinh có hai đặc điểm nổi trội là thuộc nhóm dân tộc thiểu số và kết quả học tập kém. Blackwell chia bọn trẻ thành hai nhóm để tập huấn trong 8 buổi. Nhóm đối chứng chỉ được học về kiến thức trong khi nhóm còn lại được học về kiến thức kèm theo một mô-đun đặc biệt về sự thông minh không có tính bẩm sinh. Những học sinh trong nhóm này sẽ thay nhau đọc thành lời một bài luận về việc não bộ phát triển những neuron mới như thế nào khi nó được thử thách. Chúng được xem các lát cắt về não bộ và được chơi đùa hoặc diễn các trò chơi đùa với nhau. “Thậm chí khi tôi đang dạy về những điều này, tôi vẫn nghe bọn trẻ gọi nhau là “đần”, “ngu”. Blackwell nhận xét. Sau khi kết thúc đợt tập huấn, Blackwell theo dõi điểm số của học sinh ở hai nhóm xem việc tập huấn có hiệu quả gì không?

Chẳng cần phải chờ lâu. Các giáo viên (không biết rõ học sinh nào thuộc nhóm nào) có thể chỉ ra những học sinh đã được học rằng thông minh có thể rèn luyện mà có. Bọn chúng thay đổi phương pháp học tập và đạt kết quả cao hơn. Chỉ trong một học kỳ, Blackwell đã đổi ngược hoàn toàn xu hướng đạt kết quả kém trong môn toán trong nhiều năm qua.

Sự khác nhau duy nhất giữa hai nhóm đối chứng và nhóm điều tra chỉ là hai tiết học, tổng cộng kéo dài 50 phút, không dạy về kiến thức toán mà chỉ là một ý tưởng đơn giản: bộ não là một cơ bắp. Rèn luyện nhiều sẽ giúp bạn thông minh hơn. Chỉ điều đó đã giúp cải thiện kết quả môn Toán của bọn trẻ.

“Đây là một phát hiện rất thuyết phục” theo lời Ts Geraldine Downey ở ĐH Columbia, một chuyên gia về vấn đề nhạy cảm của trẻ em khi bị hắt hủi. “Nó cho thấy bạn có thể chọn ra một lý thuyết cụ thể và phát triển nó thành một chương trình giảng dạy có hiệu quả.” Nhận xét của Downey đại diện cho phát biểu của những học giả khác trong ngành. Ts Mahzarin Banaji, một nhà tâm lý xã hội học ở ĐH Harvard, một chuyên gia về vấn đề “vơ đũa cả nắm” nói với tôi “Carole Dweck thật là thiên tài. Tôi hy vọng người ta đánh giá nghiêm túc công trình này. Nó làm người ta sợ khi thấy các kết quả tìm được.”

Từ khi có bài báo xuất bản năm 1969 có tựa đề Tâm lý học về lòng tự tôn của Nathaniel Braden, mà trong đó ông đưa ra nhận định rằng lòng tự tôn là mặt quan trọng nhất của một con người, niềm tin rằng bạn phải làm bất cứ điều gì để có một lòng tự tôn cao đã trở thành một phong trào có tác động rộng lớn về mặt xã hội. Bất kỳ thứ gì có thể làm tổn hại đến lòng tự tôn của một đứa trẻ đều bị phê phán kịch liệt. Người ta phê phán sự cạnh tranh. Các huấn luyện viên bóng đá thôi đếm bàn thắng và tặng thưởng như nhau cho tất cả thành viên trong đội. GV quẳng bút đỏ vào sọt rác. Sự phê phán được thay bằng những lời khen tràn lan, cho dù chẳng có cơ sở.

Công trình của Dweck và Blackwell là một phần của nhóm học giả đối đầu với những nguyên lý nòng cốt của phong trào lòng tự tôn: rằng lời khen, lòng tự tôn và kết quả học tập và công tác sẽ đi lên hoặc xuống dốc cùng nhau. Từ năm 1970 đến 2000, có hơn 15000 bài báo khoa học về lòng tự tôn và mối quan hệ của nó đến mọi thứ - từ quan hệ tình dục đến sự thăng tiến nghề nghiệp. Nhưng kết quả thường là mâu thuẫn hoặc không có tính thuyết phục. Vì thế vào năm 2003 Hiệp hội Khoa học Tâm lý Mỹ yêu cầu Ts Roy Baumeister, một nhà khoa học hàng đầu của nhóm lòng tự tôn, đánh giá lại các nghiên cứu này. Nhóm nghiên cứu của ông kết luận có rất nhiều nghiên cứu về lòng tự tôn không đáp ứng yêu cầu khoa học. Chỉ 200 trong số 15000 bài báo đó đáp ứng các tiêu chuẩn chặt chẽ.

Cách lập luận của một đứa trẻ là: tôi thông minh. Tôi không cần cố gắng. Cố gắng trở nên bị xem thường – nó là một bằng chứng cho mọi người thấy bạn không làm được điều gì dựa vào tài năng thiên bẩm của mình.

Sau khi đánh giá 200 nghiên cứu đạt chuẩn đó, Baumeister đưa ra kết luận rằng lòng tự tôn chẳng giúp gì trong việc học tốt hơn hay thăng tiến nghề nghiệp. Nó thậm chí chẳng giúp giảm việc uống rượu. Và nó cũng chẳng giúp làm giảm bạo lực (Những người nóng tính và bạo lực hóa ra lại là những người có lòng tự tôn cao, và điều này đánh đổ giả định là người ta trở nên bạo lực để bù đắp cho sự thiếu lòng tự tôn). Vào thời điểm đó phóng viên trích lời của Baumeister rằng những phát hiện này là “sự thất vọng lớn nhất trong sự nghiệp của tôi”.

Bây giờ thì ông theo phe của Dweck và hướng nghiên cứu của ông cũng theo hướng nghiên cứu của bà: sắp tới ông sẽ xuất bản một bài báo cho thấy đối với những sinh viên có nguy cơ thi lại, những lời khen nhằm nâng cao lòng tự tôn sẽ khiến kết quả học tập của họ tệ hơn trước. Baumeister đã bắt đầu tin rằng sự hấp dẫn của thuyết lòng tự tôn vẫn đang tồn tại gắn chặt với lòng tự hào của cha mẹ về sự thành công của con cái mình: Nó trở nên mạnh mẽ đến mức “khi khen con cái mình, thực ra là họ khen chính bản thân họ.”

Nhìn chung thì các công trình nghiên cứu về lời khen đều cho thấy nó có thể có hiệu lực – một động lực tích cực. Trong một nghiên cứu của các nhà khoa học ở ĐH Notre Dame, người ta kiểm tra hiệu quả của lời khuyên cho một đội bóng khúc côn cầu đang chơi rất tệ. Thí nghiệm đã thành công như ý muốn: Đội bóng rốt cục đã vào vòng play-off. Nhưng các lời khuyên không có tác dụng như nhau. Và như Dweck đã chứng minh, tác dụng của lời khuyên thay đổi rất nhiều tùy thuộc vào lời khuyên nào. Các nhà khoa học phát hiện, để có hiệu lực, lời khuyên phải cụ thể (các cầu thủ khúc côn cầu ở đội bóng này được khen ngợi về số lần họ chặn được đối phương ghi bàn.)

Sự chân thành của lời khen cũng rất quan trọng. Cũng như khi ta cảm thấy được ý đồ của một lời khen nửa đùa nửa thật hay một lời xin lỗi không thành thực, trẻ con cũng ‘soi’ kỹ lời khuyên xem có ý đồ gì sau đó không. Chỉ những đứa trẻ nhỏ, dưới 7 tuổi, mới cho mọi lời khen là thực: những đứa trẻ lớn hơn đều có óc hoài nghi như người lớn vậy.

Nhà tâm lý học Wulf-Uwe Meyer, một nhà tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu lời khen, thực hiện một loạt các nghiên cứu trong đó bọn trẻ được xem bọn trẻ khác được khen. Theo kết quả của Meyer, ở độ tuổi 12 trở đi, bọn trẻ bắt đầu tin rằng được GV khen không phải là một dấu hiệu cho thấy mình học tốt – thực ra nó là một dấu hiệu về sự thiếu năng lực và GV nghĩ là chúng cần thêm sự khích lệ. Và Meyer còn phát hiện ra rằng bọn trẻ vị thành niên coi thường lời khen đến mức chúng cho đó là sự phê bình của GV về năng lực của chúng chứ không phải khen thực sự.

Theo ý kiến của nhà tâm lý học về nhận thức, Dainel T. Willingham, khi một GV khen một học sinh, họ đã vô tình ngầm nhắn nhủ rằng em học sinh này đã đạt đến giới hạn về năng lực bẩm sinh của mình, trong khi một giáo viên phê bình một học sinh sẽ nhắn nhủ cho học sinh này rằng nó vẫn còn có thể cải thiện kết quả học tập của mình.

Giáo sư tâm thần học ở ĐH New York, Judith Brook giải thích rằng vấn đề của các bậc cha mẹ ở đây là sự thành thật. “Khen ngợi rất quan trọng, nhưng không phải là khen sáo rỗng. Nó phải dựa trên những điều có thật – kỹ năng hay tài năng nào đó mà bọn trẻ có.”, bà nói. Một khi bọn trẻ nghe những lời khen mà chúng nghĩ là không có cơ sở, chúng sẽ coi thường không chỉ những lời khen giả tạo mà cả những lời khen chân thành.
Các học giả ở ĐH Reed và Stanford đánh giá hơn 150 nghiên cứu về sự khen ngợi. Phân tích tổng hợp các nghiên cứu này đưa ra kết luận rằng những học sinh được khen ngợi trở nên sợ mạo hiểm và thiếu ý thức tự chủ. Các học giả tìm thấy mối tương quan chặt chẽ giữa việc khen ngợi bừa bãi và các thái độ của học sinh như “thiếu sự kiên trì khi giải bài tập, hay nhìn GV để thăm dò thái độ và sự xuống giọng khi trả lời khiến một câu trả lời giống một câu hỏi hơn.”

Nghiên cứu của Dweck về những đứa trẻ được khen quá lời chỉ ra một cách mạnh mẽ rằng ở những đứa trẻ này hình ảnh mình trong mắt người khác là mối quan tâm chính của chúng – chúng ganh đua nhiều hơn và thích hạ thấp người khác. Nhiều nghiên cứu đáng báo động cho thấy điều này.
Ở một nghiên cứu, học sinh được cho làm hai bài kiểm tra. Trước khi làm bài kiểm tra thứ hai chúng được cho cơ hội lựa chọn giữa việc học cách làm bài để chuẩn bị cho bài kiểm tra thứ hai và biết điểm và vị thứ của mình trong bài kiểm tra đầu tiên: chỉ đủ thời gian cho chúng để làm một trong hai lựa chọn trên. Những học sinh được khen thông minh thường chọn biết điểm và vị thứ thay vì dùng thời gian để chuẩn bị cho bài kiểm tra kế tiếp.

Trong một nghiên cứu khác, học sinh được yêu cầu tự điền kết quả học tập của chúng vào một phiếu báo cáo và được cho biết là các phiếu này sẽ được gửi đến các học sinh của một trường học khác – và rằng chúng sẽ không bao giờ gặp và biết tên của những học sinh này. Trong số những đứa trẻ được khen thông minh 40% đã nói dối bằng cách nâng khống điểm của mình. Trong số những đứa trẻ được khen vì sự cố gắng, rất ít nói dối về điểm của mình.

Khi học sinh chuyển sang giai đoạn phổ thông trung học, một số học sinh học giỏi ở cấp I sẽ không tránh khỏi vất vả trong học hành ở một môi trường học tập lớn hơn và yêu cầu cao hơn. Những học sinh xem sự thành công trước đó của chúng là do trí thông minh bẩm sinh sẽ cho rằng chúng vốn đã dốt sẵn rồi. Điểm số của chúng sẽ không bao giờ được như trước bởi chìa khóa để có được sự thành công như trước – cố gắng nhiều hơn – sẽ được xem là một bằng chứng nữa của sự thất bại. Trong các cuộc phỏng vấn, nhiều học sinh này thú nhận “rất có thể sẽ gian dối trong thi cử.”
Học sinh trở nên gian dối trong thi cử bởi vì chúng chưa hình thành được phương pháp để đối phó với thất bại. Vấn đề sẽ trở nên phức tạp khi phụ huynh phớt lờ sự thất bại của con cái mình và tự thuyết phục rằng bọn trẻ sẽ học tốt hơn trong tương lai. Một học giả ở Michigan, Jennifer Crocker đã nghiên cứu về tình huống giống hệt như thế này và giải thích rằng đứa trẻ có thể bắt đầu tin rằng thất bại là một cái gì đó khủng khiếp, và gia đình nó không thể chấp nhận điều đó. Đứa trẻ này đã bị lấy mất cơ hội để nói về những lỗi lầm của chúng để có thể rút kinh nghiệm.

Con trai của tôi, Luke, đang đi học nhà trẻ. Nó có vẻ rất nhạy cảm với những đánh giá của bạn bè. Luke biện minh cho điều này bằng cách thú nhận “Con nhát lắm”. Nhưng nó không thực sự nhút nhát. Nó không cảm thấy sợ khi ở một thành phố lạ, hay khi nói chuyện với người lạ. Nó cũng đã từng hát trước một đám đông lớn. Tôi lại cho rằng nó kiêu hãnh và nhạy cảm về bản than. Trường học của nó mang đồng phục rất đơn giản (áo pull và quần thủy thủ). Nó thích thú vì quần áo mà nó chọn sẽ không bị trêu chọc, “vì nếu mà chúng nó trêu con thì chúng nó cũng tự trêu chúng nó.”
Sau khi đọc nghiên cứu của Carol Dweck tôi bắt đầu thay đổi cách khen nó, nhưng không hoàn toàn triệt để. Tôi cho rằng sự chần chừ của tôi là do cách nghĩ mà Dweck muốn các học sinh hình thành – niềm tin vững chắc rằng việc đứng lên từ sự thất bại là cố gắng nhiều hơn – nghe quá sáo mòn.

Nhưng hóa ra khả phản ứng với thất bại nhiều lần bằng cách cố gắng nhiều hơn thay vì bỏ cuộc là một đặc tính của con người được nghiên cứu rất kỹ trong ngành tâm lý học. Những người có tính cách này, tính kiên trì, đứng lên rất nhanh khi vấp ngã và có thể duy trì động lực phấn đấu trong một thời gian dài khi phần thưởng chưa đến kịp. Tìm hiểu thêm về lĩnh vực nghiên cứu này tôi mới biết rằng tính kiên trì hóa ra là không chỉ là hành động có ý thức của ý chí; nó cũng là một phản ứng vô thức, bị chi phối bởi một mạng lưới thần kinh trong bộ não chúng ta. Ts Robert Cloninger ở ĐH Washington St Louis đã định vị được mạng lưới này ở vùng của bộ não gọi là vỏ não trán giữa và vỏ não trán hốc mắt. Nó giám sát vùng tưởng thưởng của não bộ, và giống như một công tắc, nó sẽ hoạt động mỗi khi sự tưởng thưởng không đến tức thì. Khi bật nó sẽ nói với bộ não “Đừng bỏ cuộc. Sắp có dopamine (một hợp chất hóa học của não bộ, xuất hiện khi ta cảm thấy vui vẻ vì mới thành công) đó. Khi quan sát các bệnh nhân dưới máy scan MRI, Cloninger có thể thấy công tắc này bật lên thường xuyên ở một số người, trong khi đó ở một số khác hầu như không bao giờ bật.

Điều gì khiến một số người có mạng lưới này hoạt động?

Cloninger đã huấn luyện tính kiên trì cho chuột nuôi trong một mê cung bằng cách khéo léo không tặng thưởng cho chúng khi chúng về đích. “Chìa khóa ở đây là củng cố tinh thần này một cách ngắt quãng”. Bộ não phải nhận ra rằng có thể vượt qua để hoàn thành những công việc khó khăn. “Một người khi lớn lên được khen thưởng quá thường xuyên sẽ thiếu đi tính kiên trì, bởi vì họ sẽ bỏ cuộc khi phần thưởng biến mất.”

Giờ thì tôi hoàn toàn tin vào nghiên cứu này. Tôi từng nghĩ “nghiện lời khen” chỉ là một câu cửa miệng – nhưng đột nhiên tôi nhận thấy dường như tôi đang cài đặt cho bộ não của con tôi khiến nó có nhu cầu được khen thưởng thường xuyên.

Vậy thì điều này có ý nghĩa gì, thôi không khen ngợi con bạn quá thường xuyên nữa? Uhm, nếu lấy tôi làm ví dụ thì có những giai đoạn ngừng khen ngợi khác nhau, mà độ khác nhau rất nhỏ. Ở giai đoạn đầu tôi khó mà từ bỏ khen ngợi được ngay lập tức khi cha mẹ của những đứa trẻ khác vẫn tiếp tục khen ngợi con cái họ thường xuyên. Tôi không muốn thằng Luke nhà tôi cảm thấy bị bỏ rơi. Tôi cảm thấy mình giống như người quyết tâm bỏ rượu giờ phải uống vì xã giao. Tôi trở thành người khen xã giao.

Sau đó tôi thử dùng lời khen cụ thể mà Dweck khuyến nghị. Tôi khen thằng Luke, nhưng cố gắng khen “quá trình” của nó. Cái này nói thì dễ mà làm mới khó. Những quá trình gì đang xảy ra trong đầu một đứa bé 5 tuổi? Ấn tượng của tôi là 80% não bộ của nó sẽ tưởng tượng về những kịch bản dài lê thê về các con búp bê của nó.

Nhưng hàng đêm nó phải làm bài tập Toán và phải đọc thành lời một cuốn sách tập phát âm. Mỗi nhiệm vụ này chỉ mất có 5 phút nếu nó tập trung. Nhưng nó rất dễ mất tập trung. Vì thế tôi khen nó vì đã tập trung và không đòi nghỉ giữa chừng. Nếu nó nghe tôi giảng chăm chú, tôi khen nó về điều đó. Sau mỗi trận bóng, tôi khen nó đã biết cách chuyền bóng thay vì khen “Con chơi tuyệt lắm.” Và nếu nó cố gắng để tranh bóng, tôi khen nó về sự cố gắng đó.

Như những gì nghiên cứu đã hứa hẹn, sự khen ngợi có chủ đích này giúp con tôi nhìn ra phương pháp nó có thể áp dụng trong ngày hôm sau. Thật tuyệt khi ta thấy được hiệu quả thấy rõ của dạng khen ngợi này.
Nhưng phải nói thẳng là trong khi con tôi chẳng gặp vấn đề gì với “chế độ khen ngợi” mới này thì chính tôi mới là người chịu đựng. Hóa ra tôi mới là thằng nghiện lời khen. Khen con tôi về một kỹ năng hay một công việc cụ thể nào đó khiến tôi cảm thấy mình đã bỏ qua và chưa đánh giá đúng những khía cạnh khác của con tôi. Tôi cảm thấy rằng khen con tôi theo cách chung nhất đại loại “Con giỏi lắm – Ba tự hào về con” là một cách thể hiện tình yêu vô điều kiện.

Khen ngợi đã trở thành một thứ thần dược để chữa sự lo lắng của các bậc làm cha làm mẹ thời nay. Trong cuộc sống thường nhật của bọn trẻ, chúng ta muốn chúng cảm thấy sự yêu thương nhiều hơn khi cả nhà quây quần bên nhau. Trong vài giờ ít ỏi đó, chúng ta muốn bọn trẻ được nghe những điều mà ta không thể nói vào ban ngày – Ba mẹ luôn đứng về phía con, vì còn và ba mẹ tin tưởng vào con.

Cũng tương tự như vậy, chúng ta đặt con cái của mình vào một môi trường áp lực rất cao. Chúng ta tìm trường tốt nhất cho chúng, và chúng ta khen chúng thường xuyên nhằm giảm nhẹ sự căng thẳng trong những môi trường như vậy. Chúng ta kỳ vọng rất nhiều vào con cái của mình. Nhưng chúng ta che dấu sự kỳ vọng đó đằng sau những lời khen ngợi không tiếc lời. Tôi chợt nhận thấy rõ sự giả dối này.

Cuối cùng, khi tôi bắt đầu vào giai đoạn cuối của việc chấm dứt khen ngợi bừa bãi, tôi chợt nhận ra rằng không khen con mình thông minh tức là tôi đã cho nó tự kết luận về sự thông minh của mình. Bộp chộp với lời khen cũng giống như bộp chộp nói cho con bạn lời giải của một bài tập toán vậy – nó tước mất cơ hội để thằng bé tự suy luận ra điều đó.

Nhưng nếu nó nhận định sai thì sao?
Tôi có thể để cho nó tự làm điều đó không, ở lứa tuổi của nó?
Tôi vẫn là một người cha rất kỳ vọng. Buổi sáng hôm nay tôi kiểm tra thằng bé trên đường tới trường: “Này, ba hỏi lại con bộ não của con sẽ như thế nào nếu nó phải nghĩ về một điều gì đó rất khó?”


“Nó sẽ to hơn, giống như cơ bắp vậy”, thằng bé trả lời, như nó đã từng trả lời trúng phóc câu hỏi này lần trước.

(Lược dịch, Mê Nấm).
Digg this Post!Add Post to del.icio.usBookmark Post in TechnoratiFurl this Post!
Trả Lời Với Trích Dẫn FaceBook
We thank Mê Nấm for this original paper:
an.vu220 (05-15-2011), chipbaodiem (07-11-2011), clairsang (11-05-2010), conbocuoi_hn (08-15-2011), levan8421 (10-02-2010), nguyenhien0190 (09-28-2010), skid_86 (10-04-2010), thongnhat313 (09-26-2010), toriyama (09-26-2010)
Trả lời

Bookmarks

Latex Maths & Physics Editor ...


Ðang đọc: 1 (0 thành viên và 1 khách)
 
Ðiều Chỉnh Kiếm Trong Bài
Kiếm Trong Bài:

Kiếm Chi Tiết

Posting Rules
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt
Trackbacks are Mở
Pingbacks are Mở
Refbacks are Mở


Chủ đề giống nhau
Ðề tài Người Gởi Chuyên mục Trả lời Bài viết sau cùng
Bạn, trí thông minh và lòng kiên trì Mê Nấm Bàn tròn giáo dục 14 10-21-2010 08:06 AM
Thủ tục chứng minh tài chính khi apply VISA nhung_ithaca Du học Hoa Kỳ, Canada 13 05-01-2010 11:37 AM
Cô sinh viên ngành Hóa và cơ hội nhận bằng phát minh tại Mỹ Đa tình kiếm khách PhDvn-Express 30 03-14-2010 12:57 AM
Vài ý cho forum buổi bình minh về kĩ thuật Howto New Ideas 32 06-11-2009 05:08 AM


 
PhDvn.org
   
All times are GMT -5. The time now is 10:39 AM.  
 
Style by TheProphet  
 

Search Engine Optimization by vBSEO 3.3.0